Kỷ niệm 50 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968

Trận tiến công Tết Mậu Thân

NGÔ VƯƠNG ANH (TUYỂN CHỌN VÀ GIỚI THIỆU)

Thứ sáu, 02/02/2018 - 09:08 AM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Ban Chỉ huy đơn vị X quân Giải phóng nhận cờ và mệnh lệnh chiến đấu trước giờ xuất kích. Ảnh tư liệu

Kỷ niệm 50 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, một sự kiện đến nay vẫn còn đang được nghiên cứu trên nhiều khía cạnh, chúng tôi xin giới thiệu một số trích đoạn trong bài báo dài đăng trên tờ Der Spiegel của CHLB Đức. Điều đáng chú ý là bài báo được đăng ngay sau những ngày Tết Mậu Thân 1968.

“Không nơi nào là an toàn trước Việt Cộng”

Trận tiến công bắt đầu trên nghĩa trang, vũ khí xuất hiện từ trong những ngôi mộ.

Một trận dịch kỳ bí dường như đang lây lan trong thủ đô Sài Gòn của Nam Việt Nam trong những ngày cuối cùng của năm Mùi Phật giáo: đám tang đi xuyên qua thành phố lớn này nhiều hơn là bình thường, người Việt thương tiếc đặt quan tài nhiều hơn là bình thường.

Nhưng cái được cho là sự thương tiếc đấy lại là lòng căm thù, trong các quan tài không có xác chết.

Khi Sài Gòn chào mừng năm mới Mậu Thân với pháo hoa trong đêm rạng sáng thứ ba trước nữa, có những bóng người đầy bí mật mở mộ cũng như quan tài ra và lẻn đi với những gì ở trong đó: với súng máy được tra dầu tốt và đạn dược.

Cả những ngôi chùa và nhà tư nhân cũng là kho vũ khí - như chùa Ấn Quang trong khu Chợ Lớn của người Hoa, như căn nhà số 266 trên đường Trần Quý Cáp, chỉ cách bản doanh của người lính Mỹ cao cấp nhất ở Việt Nam, tướng William C. Westmoreland, một vài khu phố.

Vũ khí vừa được phân chia ra thì cơn bão đỏ đã bắt đầu. 50.000 Việt cộng (viết tắt của lực lượng cách mạng miền nam Việt Nam - PV) tiến công vào 30 trong số 44 tỉnh lỵ, chiếm cơ quan nhà nước và nhà máy, cố thủ trong khách sạn và sân sau.

Họ treo lá cờ đỏ - xanh của cuộc cách mạng lên Đại Nội của thành phố Huế cổ xưa, họ tiến công vào các thành phố được cho là tuyệt đối an toàn, và khiến cho Sài Gòn trở thành thành phố nguy hiểm nhất của đất nước bị chia cắt này. “Tôi tin rằng Hà Nội (đang bị Mỹ ném bom) còn an toàn hơn cả Sài Gòn trong tuần này”, một người Canada từ Ủy ban Kiểm soát quốc tế cho Đông Dương nói.

Trong đêm đó, 19 người Việt cộng đã bắn vỡ bức tường bảo vệ tòa nhà giống như một pháo đài của Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn. Mãi sau sáu giờ đồng hồ chiến đấu, người Mỹ mới chiếm lại được khu đất đó. Việt cộng trong những chiếc xe Limousine Toyota của Nhật đã chạy đến trước Radio Saigon (Nha Vô tuyến truyền thanh và Đài Phát thanh Sài Gòn, ngã tư Nguyễn Bỉnh Khiêm - Nguyễn Đình Chiểu hiện nay) và chiếm lấy đài phát thanh này. Hỏa tiễn rơi xuống sân bay.

Không nơi nào là an toàn trước Việt cộng. Họ bắt buộc tướng Mỹ Westmoreland phải tìm nơi nương náu trong một công sự không có cửa sổ. Họ đẩy Đại sứ Mỹ Ellsworth Bunker đến một chỗ ẩn nấp ở ngoại ô. Họ khiến cho Việt Nam trở thành chiến trường cho 350.000 người lính trong số hơn 500.000 lính Mỹ ở Việt Nam, những người mà cho tới nay đã sống ở hậu phương cách xa tiếng súng bắn.

Trong một tuần duy nhất có 416 lính Mỹ tử trận. Nước Mỹ chưa từng bao giờ bị tổn thất nhiều như thế trong vòng bảy ngày. Trong “tuần lễ của những sự ngạc nhiên” này (Thiếu tướng Mỹ Chaisson), dường như Việt Nam đã chìm vào trong máu và tro và nước Mỹ đã bị đẩy đến bờ vực của chiến bại.

Tuy là Việt Cộng không thể đuổi nửa triệu lính Mỹ được trang bị tốt nhất ra khỏi đất liền của miền Viễn Ấn - và có lẽ họ cũng không chờ đợi việc này. Việc mà những người Cộng sản Việt Nam dự tính nhiều hơn là giới chính khách Mỹ sẽ hoài nghi các tướng lĩnh quá lạc quan của nước Mỹ, và dân chúng Mỹ sẽ thúc giục tổng thống của họ chấm dứt cuộc phiêu lưu không có triển vọng ở Việt Nam.

Người Mỹ đã không chuẩn bị trước cho một cuộc tập kích ở cường độ này. Tuy là hai tuần trước cơn bão đỏ, tướng William (“Westy”) Westmoreland đã thông báo trước cho các viên chỉ huy của ông ấy một “cuộc tổng tiến công lớn của Việt cộng và người Bắc Việt trước, trong hay ngay sau Tết”… nhưng khi Thiếu tướng Frederick C. Weyand, sếp của lực lượng Mỹ trong mười một tỉnh quanh thủ đô, tập hợp lực lượng của ông ấy lại sau cuộc tiến công đầu tiên của Việt cộng, ông ấy chỉ có được gần 300 lính. Những người khác - cũng như phần lớn người miền nam Việt Nam - đang nghỉ phép năm mới.

Trong lúc đó, tướng lĩnh Mỹ ở Việt Nam đang nhìn trừng trừng lên phương bắc, nơi những người anh em đỏ của Việt cộng đang chuẩn bị cho trận đánh lớn: 40.000 người lính Bắc Việt trong những bộ quân phục mầu xanh ô liu đe dọa căn cứ Khe Sanh của Mỹ với xe tăng Xô-viết, hỏa tiễn, đại bác 152 milimét và súng phóng hỏa. Ở đó, họ muốn chuẩn bị trận Điện Biên Phủ của họ cho người Mỹ.

Nhưng trận đánh lớn vào Khe Sanh còn chưa đến. Việt cộng đến thay vào đó. Từ nhiều tuần, họ đã lẻn vào thủ đô từng hai người một hay ba người một - tổng cộng là 5.000 người - từ nhiều tuần nay họ đã chuẩn bị ở khắp đất nước cho cuộc tiến công của họ.

Bây giờ, trong điệu vũ và sự náo động của đêm Giao thừa, họ tiến công. Họ ẩn núp trong những đống đổ nát và những công trình xây dựng còn thô sơ, chiếm cả nhiều khu trong thành phố - như khu phố người Hoa Chợ Lớn trong Sài Gòn - biến công sở và chùa thành nơi bắn cho xạ thủ của họ.

Ở Đà Lạt, họ tiến công một vị trí đóng quân của quân cảnh Mỹ và chiếm nội thành. Ở Plây Cu họ còn tiếp nhận cả chính quyền tỉnh: trong khi viên tỉnh trưởng đang thị sát các công sự bảo vệ chống Việt cộng thì đối thủ của ông ấy, tỉnh trưởng trong bóng tối của Việt cộng, đã chiếm lấy tòa nhà của chính quyền.

Sụp đổ niềm lạc quan

Việt cộng tiến quân ở khắp nơi, nhưng tướng Mỹ Westmoreland đánh giá trận tiến công của họ là “một thất bại đắt giá” và còn khăng khăng thêm một lần nữa, rằng bây giờ “cuối cùng Việt cộng cũng đã hết hơi”.

Người lính cao cấp nhất của Mỹ ở Việt Nam dường như không thể tưởng tượng được rằng những chiến binh chân đất trong rừng rậm với súng ống cá nhân có thể làm tê liệt cỗ máy quân sự đấy, cái mà nước Mỹ đã thiết lập ở Việt Nam trong vòng hai năm rưỡi vừa qua.

“Quân địch sẽ luôn luôn thất bại”, Lyndon B. Johnson cam đoan với người dân của ông ấy, “vì người Mỹ chúng ta sẽ không bao giờ nhượng bộ”. Và thật sự là quân địch đã mất hàng chục nghìn người trong những năm vừa qua, những nơi ẩn nấp của họ trong rừng rậm đã bị máy bay ném bom tám động cơ B-52 và máy bay tiêm kích Phantom nhanh gấp hai lần âm thanh tiến công không ngưng nghỉ, đàn ông, phụ nữ và trẻ em bị cháy vì bom napal. Người Mỹ đếm xác chết - thường hay đếm quá nhiều - và tin rằng cả đến một quân đội du kích cũng không thể nào chịu đựng được những tổn thất như thế về lâu dài.

Nhưng tính tình Á châu và tinh thần cách mạng Cộng sản đã kết nối với nhau trong Việt cộng trở thành một khối đồng nhất, không thể hiểu được đối với các quốc gia văn minh và không thể làm cho suy yếu được đối với những đoàn máy bay ném bom.

...“Đã có thể nhìn thấy kết thúc của cuộc chiến”, tướng Westmoreland hứa hẹn. Sếp chương trình bình định của ông ấy, Komer, ca ngợi tiến trình bình định đang diễn ra trong đất nước.

67% của nam Việt Nam, người Mỹ được giải thích như thế, đã không còn có Việt cộng nữa.

Westmoreland chờ đợi một trận tiến công cuối cùng trong miền nam. Thế nhưng Giáp (Đại tướng Võ Nguyên Giáp – PV) lại tập trung 40.000 người bắc Việt Nam trước Khe Sanh. Người Mỹ phải điều những lực lượng lớn đến biên giới Bắc Việt. Giáp bí mật đưa Việt cộng của ông ấy vào những chỗ trống. Pháo mừng năm mới cũng là phát súng hiệu của trận đánh tập trung lớn nhất của cuộc chiến.

Với lần tiến công vào các thành phố, Giáp “đã đạt được một chiến thắng chính trị nổi bật” (Thượng nghị sĩ Mỹ Edward Kennedy): nó cung cấp bằng chứng cho việc Việt cộng có thể tiến công bất cứ lúc nào và ở nơi nào mà họ muốn. Họ cho những người nông dân thấy tận mắt rằng sự bảo vệ là đáng nghi ngại cho tới đâu, sự bảo vệ mà nước Mỹ có thể thực hiện ở nông thôn khi mà chẳng có khả năng giữ được các thành phố…

Năm 1946, Hồ Chí Minh của Việt Nam đã kể lại một câu chuyện ngụ ngôn: “Có một cuộc chiến giữa hổ và voi. Nếu con hổ chỉ đứng yên trong khoảng khắc, con voi sẽ dùng ngà húc nó. Nhưng con hổ nhảy lên con voi và xé rách lưng nó mỗi lúc một nhiều hơn, cho tới khi con voi chết vì mất máu”.

Tướng Giáp của ông ấy nói ít thơ mộng hơn: “Kẻ địch đứng trước một vấn đề. Nếu chúng không phân tán lực lượng của chúng ra trên khắp nước thì chúng không bao giờ có thể chiếm cứ được những vùng do chúng ta kiểm soát. Nhưng nếu chúng phân tán lực lượng ra trên khắp nước thì rồi chính chúng sẽ gặp khó khăn”.

Vì: “Địch thủ có thể mạnh hơn chúng ta gấp mười lần. Nhưng khi chúng ta bắt buộc chúng phải rải lực lượng của chúng ra trên khắp nước, thì ở nơi mà chúng ta muốn tiến công chúng, chúng ta có thể mạnh gấp mười lần chúng”...