Mở nhân lực cho ngành du lịch

BÀI & ẢNH: THU HẰNG

Thứ hai, 04/12/2017 - 03:58 AM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Ngành Quản trị nhà hàng & Dịch vụ ăn uống đang được Bộ GD&ĐT điều chỉnh theo hướng mở.

Nhằm sớm khắc phục sự thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành du lịch hiện nay, Bộ Giáo dục & Đào tạo (Bộ GD&ĐT) vừa có văn bản hướng dẫn áp dụng cơ chế đặc thù về đào tạo các ngành du lịch. Theo đó, Bộ khuyến khích các trường thực hiện hình thức đào tạo văn bằng hai, khuyến khích sinh viên đã tốt nghiệp các ngành khác chuyển sang học văn bằng hai tại những cơ sở đào tạo về du lịch.

Thiếu và yếu

Tại hội thảo khoa học “Nâng cao chất lượng đào tạo văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao và du lịch theo hướng chuẩn quốc gia và khu vực” do Vụ Đào tạo (Bộ Văn hóa - thể Thao & Du lịch - VHTT&DL) tổ chức cách đây ít lâu, các chuyên gia đã bày tỏ lo ngại về việc hướng dẫn viên (HDV) du lịch hiện nay ở nước ta không chỉ thiếu trầm trọng về số lượng mà còn mất cân đối nghiêm trọng về cơ cấu. Cụ thể, trong số 9.920 HDV quốc tế thì HDV nói tiếng Anh có 5.595 người, tiếng Hoa có 1.586 người, tiếng Pháp có 1.135 người, tiếng Nga có 521 người, tiếng Nhật có 512 người... Tình trạng này dẫn đến sự xuất hiện các HDV “chui”, trong đó có một số người nước ngoài lâu năm ở Việt Nam, thông thạo dịch vụ, đã tự tổ chức tour, hướng dẫn khách khiến nội dung thông tin bị truyền tải khó kiểm soát. Điển hình như tình trạng HDV giới thiệu sai lệch về lịch sử văn hóa, chủ quyền của Việt Nam tại các điểm du lịch đang gây nhiều bức xúc trong dư luận những ngày gần đây. Nguyên nhân do phần lớn nguồn nhân lực du lịch chỉ qua các khóa học “cấp tốc” hoặc ngắn hạn nên kỹ năng nghề nói chung còn thấp. Số lao động có trình độ đại học và trên đại học chiếm tỷ lệ thấp, ít người được đào tạo đúng chuyên ngành mà chủ yếu từ các ngành nghề khác chuyển sang.

Không chỉ mỗi nghề HDV, theo Tổng cục Du lịch, hiện Việt Nam vẫn đang thiếu các trung tâm đào tạo nhân lực du lịch chất lượng cao. Mỗi năm, toàn ngành cần thêm gần 40.000 lao động nhưng chỉ có khoảng 20.000 lao động tốt nghiệp từ các cơ sở đào tạo, trong số đó chỉ có khoảng 1.800 sinh viên ĐH, CĐ chuyên nghiệp, 2.100 sinh viên CĐ nghề du lịch, còn lại là học sinh trung cấp, sơ cấp và đào tạo ngắn hạn dưới ba tháng. Vụ Đào tạo, Bộ VHTT&DL cho biết đến năm 2016, cả nước có 156 cơ sở đào tạo du lịch, trong đó có 48 trường ĐH; 43 trường CĐ và CĐ nghề tuy nhiên, chương trình đào tạo du lịch đến nay vẫn chưa được thống nhất. Vì vậy việc mở rộng cơ chế đào tạo là rất cần thiết nhất là khi ngành du lịch là một trong những ngành đầu tiên được dịch chuyển lao động trong khối Cộng đồng kinh tế ASEAN và Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành khung trình độ quốc gia tương thích với khung trình độ tham chiếu ASEAN.

Rút ngắn thời gian đào tạo

Để giải “cơn khát” nhân lực cho ngành công nghiệp không khói, Bộ GD&ĐT vừa có văn bản hướng dẫn áp dụng cơ chế đặc thù đào tạo các ngành về du lịch. Theo đó, những ngành được áp dụng cơ chế đặc thù gồm Du lịch, Quản trị dịch vụ du lịch & Lữ hành, Quản trị khách sạn, Quản trị nhà hàng & Dịch vụ ăn uống và một số mã ngành đào tạo thí điểm trong lĩnh vực du lịch được điều chỉnh theo hướng mở, dễ dàng chuyển đổi, liên thông. Các học phần cốt lõi nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng nền tảng của ngành đào tạo. Các học phần tự chọn theo hướng chuyên sâu về các lĩnh vực du lịch theo vùng miền, khu vực địa lý, loại hình du lịch... Rút ngắn thời gian đào tạo phù hợp với Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân. Tăng thời gian đào tạo thực hành, thực tập tại doanh nghiệp. Khuyến khích các cơ sở đào tạo công nhận tín chỉ lẫn nhau, phối hợp xây dựng nguồn học liệu dùng chung, đặc biệt là nguồn học liệu điện tử.

Nhận xét về cơ chế đặc thù đào tạo nhân lực ngành du lịch, bà Nguyễn Thị Kim Phụng - Vụ trưởng Giáo dục đại học (Bộ GD&ĐT) cho biết, đề án này sẽ tạo cơ chế thuận lợi cho sinh viên đã tốt nghiệp nhưng chưa tìm được việc làm, hoặc những lao động ở ngành nghề khác muốn chuyển sang làm du lịch. “Người tốt nghiệp đại học ngành du lịch đạt được chuẩn đầu ra theo quy định của khung trình độ quốc gia sẽ có nhiều lợi thế hơn trong tìm kiếm việc làm, không chỉ ở các doanh nghiệp trong nước mà còn ở các nước khác trong khu vực. Tuy nhiên, cơ chế đặc thù này chỉ thực hiện thí điểm trong ba năm (giai đoạn 2017-2020). Sau ba năm, Bộ sẽ tổ chức đánh giá kết quả thực hiện cơ chế đặc thù, xác định việc tiếp tục thực hiện, chấm dứt hoặc điều chỉnh các quy định nếu thấy cần thiết”.