Tiếp diễn tình trạng bất bình đẳng giới

QUỐC CƯỜNG (SƯU TẦM)

Thứ năm, 15/03/2018 - 04:10 AM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Phụ nữ ít cơ hội cạnh tranh trong công việc so nam giới. Ảnh: THE HUFFINGTON POST

Bất bình đẳng giữa nam và nữ trong việc làm, trả lương, địa vị xã hội,… đang là những vấn đề nan giải được các nước trên thế giới quan tâm. Tuy nhiên, dù nhiều nước đã áp dụng các biện pháp giải quyết song tình trạng bất bình đẳng giới còn tiếp diễn.

Gánh nặng trên vai người phụ nữ

Ở các nước có thu nhập cao, thu nhập trung bình trong Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), lương trung bình của một phụ nữ làm việc đầy đủ thời gian chỉ bằng 85% lương của một nam giới. Số liệu do cơ quan tư vấn Korn Ferry (Mỹ) thu thập từ 25 nước cho thấy, nữ giới và nam giới làm công việc như nhau, cùng một cơ quan, nhưng thu nhập của nữ giới chỉ bằng 98% của nam giới; phụ nữ làm nhiều việc hơn so nam giới nhưng được trả lương thấp hơn và ít có cơ hội được đề bạt; họ cũng bị phân biệt đối xử về ngành, nghề, chẳng hạn như ngành, nghề có nhiều phụ nữ làm việc thì mức lương được trả thấp hơn; ở các nước nhóm bảy nước công nghiệp phát triển (G7) chỉ có một phần năm số ủy viên quản trị cấp cao là phụ nữ; quan chức giám sát của Liên hiệp châu Âu (EU) chủ yếu là nam giới, dù số đông nhân viên là nữ giới; những ngành, nghề mà phụ nữ chiếm số đông thường có địa vị thấp và thu nhập thấp hơn; giáo viên tiểu học trong OECD có thu nhập trung bình bằng 81% thu nhập của người có bằng cấp; các nữ y tá thu nhập thấp hơn giới chức cảnh sát; người quét dọn thu nhập thấp hơn người trông nom nhà cửa...

Nghiên cứu của Korn Ferry chỉ ra rằng, tỷ lệ bằng cấp trong lĩnh vực kinh doanh và quản lý mà nữ giới đạt được tăng đều đặn, nhưng bước tiến trong sự nghiệp của họ lại chậm chạp. Tại Mỹ, kể từ năm 2000, khoảng một nửa bằng cấp đại học được trao cho nữ giới nhưng phụ nữ làm ủy viên quản trị cấp cao vẫn chỉ chiếm tỷ lệ một phần năm so nam giới. Một cuộc điều tra năm 2016 ở các công ty của Mỹ cho thấy, một trong những nguyên nhân khiến nữ giới ít được đề bạt hơn so nam giới là vì nhiều nhà quản lý do dự trong việc đề bạt phụ nữ có gia đình, hoặc sắp lập gia đình. Mặt khác, cơ hội được đề bạt của phụ nữ thường trùng thời điểm họ bắt đầu có gia đình. Các số liệu từ Anh cho thấy, ở độ tuổi mà thu nhập của phụ nữ nước này giảm so nam giới là lúc họ sinh con đầu lòng. Phụ nữ có bằng đại học ở Mỹ cũng lâm vào tình cảnh tương tự.

Một cuộc điều tra tại Mỹ, Australia, Anh, Pháp, Đức và các nước Bắc Âu vào đầu năm 2017 do tạp chí The Economist tiến hành đưa ra dẫn chứng về việc trẻ con ảnh hưởng đến giờ làm việc của các bà mẹ như thế nào. Theo đó, trong số những phụ nữ đang làm mẹ thì từ 44 - 74% làm việc ít giờ hơn, hoặc chuyển sang làm những công việc có yêu cầu thấp hơn để ít phải đi lại và làm ngoài giờ nhằm có thêm thời gian chăm sóc con cái. Trong khi đó chỉ có từ 13% - 37% các ông bố làm điều tương tự và hơn 50% cho biết người bạn đời của họ đã phải giảm bớt giờ đi làm để chăm sóc con cái.

Phụ nữ ưu tiên cho việc chăm sóc con nhỏ cũng đồng nghĩa với việc thu nhập của họ giảm đi. Nghiên cứu mới đây tại Mỹ được AP trích dẫn cho thấy, lương trung bình của phụ nữ khi làm mẹ giảm trung bình 4%/trẻ em. Thu nhập của một bà mẹ ở Anh giảm 2%/năm khi không còn trong lực lượng lao động. Jennifer Young, một bà mẹ Mỹ có bằng kỹ sư kỹ thuật cơ khí đã từ chối lời đề nghị tuyển dụng của một công ty cơ khí, vì muốn dành nhiều thời gian cho việc chăm sóc gia đình.

Cùng bằng cấp và trình độ chuyên môn ngang nhau, nhưng nam giới được trả lương cao hơn so nữ giới trong cùng thời gian làm việc là lý do vì sao các bà mẹ thường hy sinh sự nghiệp của mình vì con cái. Ngoài ra, còn có nhiều nguyên nhân khác, như khi trở thành các ông bố, giới “mày râu” thường có chí tiến thủ hơn so “phái yếu” khi làm mẹ. Tạp chí The Economist tham khảo ý kiến của người dân ở tám nước về việc họ cân bằng như thế nào giữa sự nghiệp và gia đình. Kết quả cho thấy, số đông trả lời rằng nhiệm vụ chăm sóc con cái đặt lên vai phụ nữ.

Cần cải tiến các chính sách hỗ trợ

Chính sách của các chính phủ giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kết hợp giữa việc làm cha mẹ và công việc. Những chính sách này phải tạo thu nhập ổn định cho phụ nữ và đáp ứng định hướng sự nghiệp cho cả nam và nữ giới, đồng thời định hình quyết định của các công ty về việc tuyển chọn và đề bạt đúng người, đúng việc. Nhiều nước đã đề nghị trả lương cho phụ nữ trong thời gian nghỉ sinh đẻ từ nhiều năm nay. Khi thời gian này kéo dài một năm hoặc ít hơn, số phụ nữ đi làm sau sinh tăng lên.

Tại Mỹ, nước phát triển duy nhất không có chế độ nghỉ thai sản, khoảng một phần tư phụ nữ đi làm trở lại sau khi sinh được mười ngày. Tuy nhiên, nhiều phụ nữ nước này sau khi sinh con không bao giờ đi làm nữa vì họ không thể yên tâm khi gửi con nhỏ ở nhà trẻ, hoặc thu nhập của họ không đủ để gửi con ở nhà trẻ. Theo chuyên gia nghiên cứu Olivier Thevenon thuộc OECD, khi chế độ nghỉ sinh kéo dài hơn một năm, số phụ nữ tham gia lực lượng lao động giảm đi vì họ không đi làm trong thời gian dài, tay nghề giảm sút dẫn tới lo ngại khi đi làm trở lại.

Vào những năm 70 của thế kỷ trước, các nước Bắc Âu là những quốc gia đầu tiên đưa ra chế độ vợ, chồng được nghỉ khi sinh con. Tuy nhiên, rất ít người chồng thực hiện chế độ này. Để khuyến khích các ông chồng nghỉ khi vợ đẻ, một số nước tăng thu nhập cho người chồng. Hiện nay, tại Thụy Điển, Na Uy có khoảng 90% số người chồng thực thi chế độ vợ, chồng nghỉ sinh. Trong khi đó, Chính phủ Đức thưởng hai tháng lương cho những người chồng nghỉ khi vợ sinh nở, khiến số ông chồng thực hiện chế độ trên tăng từ 21% lên 34% giai đoạn 2008 - 2014. Tại Anh, tiền trả cho người chồng thấp khiến họ không muốn từ bỏ công việc của mình khi vợ sinh con, do đó tỷ lệ cạnh tranh về việc làm giữa nam giới và nữ giới ở nước này cũng tăng lên.

Các chuyên gia cho rằng, để giải quyết bất bình đẳng giới trong việc làm, thu nhập, chăm sóc con cái,... thì những chính sách đề ra phải hỗ trợ cả nữ giới và nam giới. Những chính sách đó sẽ giúp giảm bớt gánh nặng gia đình mà người phụ nữ phải gánh vác. Và điều quan trọng là các cơ quan hỗ trợ nhân viên của họ làm việc một cách linh hoạt để giúp các cặp vợ chồng cân bằng tốt hơn giữa việc cơ quan và việc gia đình.