Vai trò của hệ thống cảnh báo sóng thần

THANH TÂM (BIÊN DỊCH)

Chủ nhật, 07/10/2018 - 03:19 PM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Sóng thần gây thiệt hại nặng nề đối với tỉnh Sulawesi của Indonesia. Ảnh: THE WASHINGTON POST

Trận động đất gây sóng thần ngoài khơi đảo Sulawesi (Indonesia) vừa qua đã gây thiệt hại nặng nề về người và cơ sở hạ tầng. Cơ quan khí tượng của Indonesia đã phát đi cảnh báo sóng thần, song lại dỡ bỏ chỉ sau 40 phút. Việc đánh giá thấp cảnh báo được cho là nguyên nhân làm cho số thương vong tăng cao. Vụ việc một lần nữa nhắc lại tầm quan trọng của hệ thống cảnh báo sóng thần đối với quá trình phòng, chống thiên tai.

Thiếu kinh phí bảo trì hệ thống địa phương

Hai trận động đất liên tiếp cường độ 6,1 và 7,5 độ richter xảy ra ngoài đảo Sulawesi chiều tối 28-9 gây ra hàng chục cơn dư chấn. Động đất kèm theo sóng thần đã gây thiệt hại nặng nề, khiến hơn 1.300 người thiệt mạng và nhiều người vẫn còn mất tích. Hầu hết nạn nhân đều được ghi nhận tại thành phố Palu, nằm trong một vịnh hẹp của đảo Sulawesi. Những cơn sóng cao tới 6m ập vào nơi hàng trăm người đang tụ họp nhân một lễ hội bên bờ biển. Sóng thần vỗ vào bờ và nước dâng cao làm cho các tòa nhà đổ sập, phá hủy cả những khu dân cư trong đất liền.

Cơ quan Địa - Vật lý và khí tượng của Indonesia (BMKG) đã ban bố cảnh báo sóng thần ngay sau trận động đất đầu tiên, với cảnh báo sóng cao từ 0,5 đến 3m. Tâm chấn nằm ở độ sâu 10 km, gần thị trấn Donggala, tỉnh Trung Sulawesi. Nhưng sau đó 40 phút BMKG đã dỡ bỏ cảnh báo, vì hệ thống cảnh báo không đánh giá chính xác mức độ của các đợt sóng thần này.

Theo BBC, “quốc gia vạn đảo” sở hữu một hệ thống cảnh báo sớm sóng thần bao gồm mạng lưới 170 cảm biến động đất, 238 trạm tín hiệu và 137 máy đo triều. Hệ thống cảnh báo sớm của Indonesia đã nhận ra những nguy cơ có sóng thần và trên thực tế đã gửi đi một cảnh báo. Song hệ thống này lại không đánh giá chính xác mức độ và quy mô sóng thần, dẫn đến việc gỡ bỏ cảnh báo.

Theo các chuyên gia của BMKG, do ngân sách eo hẹp, hệ thống cảnh báo hiện tại đang hoạt động rất hạn chế. BMKG chỉ nhận được ngân sách bảo trì cho 70 cảm biến trong số 170 cảm biến động đất được trang bị. Ngoài ra, các trang thiết bị cũng không được lắp đặt đầy đủ ở các vị trí cần thiết để có thể đánh giá đúng mức độ chịu ảnh hưởng ở từng địa phương.

Theo Jakarta Post, một quan chức của BMKG cho biết máy đo thủy triều gần nhất nằm cách thành phố Palu hơn 200 km. Do không có dữ liệu ghi nhận chính xác tại Palu nên cơ quan cảnh báo đã phải sử dụng dữ liệu từ máy đo thủy triều nói trên và thực hiện tính toán dựa trên số liệu đó. Máy đo thủy triều đã đo lường sự thay đổi mực nước biển song chỉ ghi nhận mức tăng 6 cm, qua đó cho thấy chiều cao sóng thần ước tính chỉ dưới 0,5m là không đáng kể.

Ngoài ra, Indonesia cũng có một hệ thống cảnh báo sóng thần bao gồm mạng lưới 21 phao cảnh báo dựa trên những dữ liệu thu thập từ các cảm biến đặt dưới biển. Hệ thống phao này do các nước Đức, Mỹ và Malaysia tài trợ sau trận động đất, sóng thần kinh hoàng trên Ấn Độ Dương cướp đi sinh mạng của hơn 225.000 nghìn người vào năm 2004.

Tuy nhiên, hệ thống cảnh báo sớm ở địa phương đã không được giám sát chặt chẽ, dẫn đến hậu quả là không còn phao cảnh báo nào hoạt động nữa. Một số hư hại do thời gian dài không bảo trì, hoặc bị những kẻ phá hoại hay trộm cắp lấy mất. Do không có dữ liệu thu thập từ các phao này nên BMKG dự đoán sóng thần sau trận động đất bằng cách sử dụng một hệ thống mô hình dựa trên các số liệu về độ sâu và độ lớn của trận động đất.

Thực tế từ trước khi thảm họa xảy ra, Indonesia đã đứng trước yêu cầu cần có dữ liệu cảnh báo sóng thần với các thước đo thủy triều hoặc cảm biến chính xác hơn. Tuy nhiên, việc thay thế các hệ thống cũ còn bị trì hoãn vì thiếu kinh phí.

Các hệ thống cảnh báo quốc tế

Ngoài hệ thống cảnh báo sớm ở địa phương, Indonesia là một trong 28 quốc gia thành viên của hệ thống cảnh báo sóng thần Ấn Độ Dương và là một trong ba nước chịu trách nhiệm cảnh báo sóng thần trên tuyến đầu của khu vực này cùng với Australia và Ấn Độ. Trong trận động đất 8,4 độ richter xảy ra ở thành phố Banda Aceh, tỉnh Aceh thuộc đảo Sumatra của Indonesia năm 2012, hệ thống này đã phát đi cảnh báo trên quần đảo Andaman và Nicobar thuộc Ấn Độ. Cảnh báo ở Aceh cũng được phát đi nhưng chậm hơn do sự cố kỹ thuật.

Năm 2005, hệ thống cảnh báo sóng thần Ấn Độ Dương đã được LHQ thống nhất thông qua trong một hội nghị quốc tế tại Kobe (Nhật Bản). Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục LHQ (UNESCO) là cơ quan chủ trì chính thức đưa hệ thống này vào hoạt động từ tháng 6-2006. Theo Reuters, hệ thống này bao gồm 25 trạm địa chấn chuyển tiếp thông tin tới 26 trung tâm thông tin sóng thần của mỗi quốc gia; và sáu hệ thống phao đánh giá, báo cáo sóng thần đại dương (DART).

Phao cảnh báo sớm sóng thần trên Ấn Độ Dương. Ảnh: NOAA

Khi phát hiện một trận động đất xảy ra, dữ liệu từ các máy ghi lập tức được gửi đến Trung tâm cảnh báo sóng thần Thái Bình Dương ở Hawaii và Cơ quan Khí tượng Nhật Bản xử lý, phối hợp các trung tâm sóng thần quốc gia trong khu vực. Các đơn vị này có thể mất từ 15 - 20 phút để phân tích dữ liệu động đất và đưa ra bản dự báo sóng thần gửi đến các trung tâm và tổ chức chính phủ của các nước khu vực Ấn Độ Dương. Mỗi quốc gia sau đó sử dụng dữ liệu này cùng với các số liệu từ trạm đo đạc địa phương để ban bố cảnh báo đến công dân theo các phương pháp như qua sóng radio, truyền hình hay tin nhắn văn bản, còi báo động, loa phóng thanh…

Chẳng hạn, trong trận động đất ở Aceh năm 2014, Văn phòng điều khiển khẩn cấp của Chính phủ Sri Lanka ở Thủ đô Colombo, sau khi phân tích dữ liệu đã quyết định ban bố “sơ tán sóng thần” đến toàn bộ 75 tháp cảnh báo trên các đảo. Còi báo động lập tức rung lên và chỉ trong vòng 20 phút, ba triệu người đã được di chuyển từ bờ biển đến những nơi an toàn hơn. Tuy nhiên, trong các báo cáo gần đây, UNESCO cũng cảnh báo các chính phủ và trung tâm chuyển tiếp thông tin từ cơ quan phân tích dữ liệu đến người dân cần phải có biện pháp kết nối hiệu quả hơn.

Tương tự hệ thống này, mạng lưới cảnh báo sóng thần quốc tế còn bao gồm hệ thống cảnh báo sóng thần trên Thái Bình Dương, Đại Tây Dương, Địa Trung Hải và các biển liên kết; hệ thống ở khu vực Caribbe. Ngoài ra, Nhật Bản - quốc gia thường xuyên gánh chịu các trận động đất, sóng thần, sở hữu một hệ thống cảnh báo sớm tiên tiến, hiện đại hàng đầu thế giới. Nhật Bản nằm trong khu vực hoạt động địa chấn nhiều nhất thế giới, với ước tính 100.000 trận động đất mỗi năm, bởi vậy công nghệ dự báo thảm họa của đất nước “mặt trời mọc” cũng phát triển vượt bậc.

Nhật Bản thiết lập hệ thống cảnh báo sóng thần đầu tiên vào năm 1941 và sớm đầu tư mạnh để phát triển các công nghệ ứng phó thiên tai. Hệ thống cảnh báo sóng thần gần bờ của Nhật Bản bao gồm các cảm biến áp suất dưới đáy biển, các trung tâm xử lý nhạy bén có thể phát báo động đến điện thoại di động và đổ chuông vài giây trước khi mặt đất bắt đầu rung chuyển. Nhưng dù công nghệ hiện đại đến đâu vẫn luôn có hệ số rủi ro. Do vậy các hệ thống cảnh báo sớm vẫn luôn đề cao ý thức ứng phó thiên tai của người dân, đặc biệt là tại các địa phương ven biển.