Đưa hàng nông sản ra thế giới

THU THỦY, ĐẶNG THÀNH

Thứ ba, 06/03/2018 - 10:03 AM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Hơn 80% sản lượng trái cây Việt Nam vẫn tiêu thụ ở thị trường trong nước, chủ yếu ở dạng quả tươi. Ảnh: HẢI NAM

Xuất khẩu (XK) nông sản Việt Nam liên tiếp lập kỷ lục đáng ghi nhận trong hai năm qua. Năm 2018, mặt hàng này vẫn tiếp tục được ngành nông nghiệp đặt nhiều kỳ vọng. Song, để thu về giá trị lớn và thâm nhập được với các thị trường khó tính, ngành nông sản cần có sự thay đổi. Đặc biệt là trong quá trình sản xuất, liên kết giữa nông dân và doanh nghiệp (DN), đầu tư máy móc chế biến sâu, xây dựng thương hiệu…

Kỳ 1: Vị thế mới, thách thức mới

Xác lập vị thế mới

Mười năm qua, ngành nông nghiệp nói chung và nông sản của Việt Nam nói riêng trải qua bao sóng gió của thiên tai, hạn hán, lụt lội, sự biến động thất thường của thị trường tiêu thụ; rào cản thương mại của các nước tìm cách hạn chế nhập khẩu (NK) các mặt hàng nông sản để vươn lên, khẳng định vị thế vững chãi trên thị trường quốc tế.

Trước đây, vấn đề nan giải nhất của Việt Nam trong đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) là yêu cầu mở cửa thị trường nông sản (TTNS), bỏ trợ cấp XK, hạn chế trợ cấp hộp vàng, bỏ hạn ngạch NK một số mặt hàng, liệu ngành nông sản của chúng ta có trụ nổi không? Nhiều tổ chức, cá nhân, kể cả một số lãnh đạo cấp cao cũng quan tâm, lo lắng vấn đề này. Cụ thể, tổ chức Oxfam từng gửi thư cảnh báo tới Chính phủ về những rủi ro khi Việt Nam mở cửa TTNS.

Theo quan điểm của Đoàn đàm phán Việt Nam khi đó (năm 2004), ngành nông sản Việt Nam có cả lợi thế và hạn chế. Lợi thế là thổ nhưỡng, do đất nước trải dài chúng ta có vùng khí hậu nhiệt đới, cận nhiệt đới và một phần ôn đới thích hợp nhiều loại cây trồng khác nhau. Có hai châu thổ sông Hồng và sông Mê Công, từng là vựa lúa, là “bát cơm của châu Á” trước đây. Người nông dân Việt Nam cần cù canh tác, và không quảng canh như các nước khác. Hạn chế là nông nghiệp lạc hậu; đất đai chia nhỏ manh mún; giống một số cây trồng năng suất thấp phụ thuộc vào nước ngoài; cây công nghiệp chế biến chưa phát triển nên XK nông sản phần lớn là XK thô giá trị thấp.

Song với chủ trương đúng đắn của Đảng và Chính phủ, sự chỉ đạo quyết liệt của các bộ, ngành, địa phương, ngành nông sản đã không rơi vào rủi ro và vươn lên vị thế mới. Nông sản Việt Nam hiện sở hữu tới bốn đến năm mặt hàng được xếp hạng trên thế giới như: gạo đứng thứ hai, cà-phê đứng thứ hai, hồ tiêu đứng thứ hai, hạt điều thứ nhất… Hơn thế, chính sách cánh đồng mẫu lớn bắt đầu hình thành các vùng nguyên liệu lớn như: thanh long ở Phan Thiết, gạo ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, tiêu ở Tây Nguyên, Quảng Trị; cà-phê ở Tây Nguyên, Sơn La, Điện Biên, Quảng Trị…; điều ở Bình Phước. Người nông dân ngày nay đã nhận thức được việc phải liên kết trong sản xuất để tạo thế và lực. Việc đầu tư vào chế biến để nâng cao giá trị gia tăng được quan tâm hơn. Các tiêu chuẩn và quy chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) được ban hành phù hợp các quy định của quốc tế. Chính phủ vào cuộc đàm phán mở cửa TTNS cho các sản phẩm chế biến trong 16 hiệp định thương mại tự do (FTA) mới, thí dụ như: mở cửa thị trường cà-phê rang xay và hòa tan. Thuế NK vào các nước tham gia FTA mới xuống 0 - 5%. Chính vì thế, XK cà-phê rang xay và hòa tan từ con số 0 trong hai năm qua đã tăng lên chiếm tới 11% tổng giá trị XK mặt hàng này.

Mới đây, tiếp theo trái vải, xoài và thanh long được XK vào Australia, tháng 2-2018, Bộ Nông nghiệp và Nguồn nước Australia đã tiếp tục đến Việt Nam để đánh giá về quy trình trồng nhãn và kiểm tra, đánh giá thực tế vùng trồng, sơ chế, đóng gói trái cây tại một số địa phương của Việt Nam. Đoàn công tác đã đi thăm hai vùng trồng nhãn tại tỉnh Bến Tre và Hưng Yên và đánh giá có khả năng nhãn của Việt Nam sẽ được cấp phép XK sang Australia từ đầu năm 2019. Đây là thông tin tốt, minh chứng cho vị thế mới của ngành nông sản Việt Nam, bởi Australia là một trong những quốc gia nông nghiệp công nghệ cao hàng đầu thế giới.

Vẫn kém cạnh tranh vì thiếu lợi thế

Hiện nay, hơn 80% lượng trái cây Việt Nam vẫn tiêu thụ ở thị trường trong nước, chủ yếu ở dạng quả tươi. Trong đó, 90% được tiêu thụ ở các chợ truyền thống. Trong khi các kênh phân phối hiện đại như siêu thị, cửa hàng tiện ích, cửa hàng trái cây cao cấp mới chỉ chiếm 10% lượng trái cây tiêu thụ nội địa. Nếu đầu tư chế biến sâu, nông sản Việt Nam sẽ nâng cao được giá trị. Thí dụ, để chế biến được một 1 tấn bột thanh long phải cần đến hàng nghìn tấn thanh long tươi. Như vậy, sức tiêu thụ sản phẩm cho nông dân tăng gấp hàng trăm, thậm chí hàng nghìn lần.

Theo Tổng Thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam Nguyễn Hữu Đạt, năm 2018, các DN cần cố gắng cải thiện hơn nữa vấn đề chất lượng trái cây, VSATTP để có thể nâng cao giá trị sản phẩm tại các thị trường truyền thống, từ đó tăng kim ngạch XK. Đồng thời, cần chuyển đổi đầu tư vào chế biến, đây là giải pháp giúp ổn định hàng hóa, có quanh năm và bán được giá trị cao hơn. Nhà nước nên có chính sách cho DN vay ưu đãi để đầu tư hệ thống chế biến hiện đại đáp ứng tiêu chuẩn trái cây XK.

Đầu tư chế biến sâu, nông sản Việt Nam sẽ nâng cao được giá trị. Ảnh: NAM ANH

Trưởng Phòng Kinh doanh Rickermann Việt Nam Trần Hoài Nam cũng nhận định, một trong những thách thức mà ngành công nghiệp chế biến trái cây đang đối mặt là công nghệ chế biến chưa đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế để nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm. Do vậy, DN cần thay đổi và áp dụng công nghệ mới trong sản xuất, áp dụng nguyên liệu mới, đầu tư dây chuyền sản xuất tiên tiến nhằm tăng tính hiệu quả và bảo đảm chất lượng sản phẩm.

Một trong những lý do khiến nhiều nước e ngại NK trái cây Việt Nam là giá thành cao hơn so các thị trường khác. Theo Tham tán Thương mại (TTTM) Việt Nam tại Nhật Bản Tạ Đức Minh, người Nhật Bản rất thích ăn xoài Việt Nam vì độ ngọt cao. Nếu so sánh, xoài Việt đạt độ ngọt 20%, xoài Nhật Bản chỉ có độ ngọt từ 12 - 15%. Tuy nhiên, giá xoài Việt Nam hiện cao hơn xoài Thái-lan một phần vì khâu vận chuyển, dù gần hơn một số nước trong khu vực nhưng giá vận chuyển cao nên đẩy giá thành lên cao, trong khi thời gian bảo quản lại rất ngắn. Yếu tố này khiến các nhà NK Nhật Bản ưu tiên xoài Thái-lan hơn.

Hay ở thị trường Trung Quốc, các TTTM cũng cho biết, hoa quả Việt Nam gặp sự cạnh tranh gay gắt với hoa quả Thái-lan. Họ đang có lợi thế là làm công tác xúc tiến thương mại, xây dựng hình ảnh thương hiệu, sản phẩm chế biến đa dạng hơn Việt Nam.

Ông Nguyễn Hữu Đạt cho rằng, để trụ vững ở các thị trường lớn và khó tính, DN XK cần chủ động liên kết với nhau, không chỉ có chiến dịch quảng bá phù hợp mà là tập hợp đủ sức mạnh, từng bước tiến vào khâu phân phối tại chính thị trường NK, bảo vệ và tăng khả năng cạnh tranh cho hàng nông sản Việt Nam.

Còn theo Phó Viện trưởng Cây lương thực và cây thực phẩm Đào Thế Anh, ngành nông sản đang đứng trước nhiều thách thức như biến đổi khí hậu, quá trình đô thị hóa nhanh, lớp trẻ không muốn làm nông nghiệp, yêu cầu VSATTP “từ khâu trồng đến bàn ăn” đã áp dụng ở nhiều nước; cạnh tranh của các nước mới nổi và biến động thị trường. Tiềm năng của ngành còn lớn. Muốn tăng XK của ngành nông nghiệp từ 36,3 tỷ USD năm 2017 lên cao hơn trong những năm tới, đặc biệt là đối với nông sản, cần tập trung vào các khâu sau: Thứ nhất, sản phẩm nông sản phải đáp ứng yêu cầu chất lượng về VSATTP của các nước phát triển như: Nhật Bản, EU, Mỹ, Hàn Quốc. Thứ hai, tập trung vào khâu chế biến nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm. Thứ ba, điều chỉnh quy hoạch vùng thổ nhưỡng, chọn cây trồng thích hợp cung cấp cho thị trường trong nước và XK đi các nước có hiệp định FTA mới. Thứ tư, tăng cường khâu quảng bá, tiếp thị của DN và hỗ trợ của Chính phủ; đẩy mạnh tiêu thụ thị trường trong nước. Thứ năm, các ngân hàng cung cấp vốn trung và dài hạn cho đầu tư chế biến, đầu tư công nghệ cao, phát triển các giống mới thích ứng với biến đổi khí hậu.

Ông Đào Thế Anh nhấn mạnh, năm 2018, dự báo thị trường vẫn có những tín hiệu rất tốt cho nông sản, đặc biệt là các mặt hàng rau quả… Vấn đề quan trọng là ngành nông nghiệp cần kiên quyết chuyển sang sản xuất chất lượng, bảo đảm VSATTP… Có vậy, nông sản Việt Nam mới có thể tiếp cận được đa dạng thị trường, nâng cao giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm XK.

(Còn nữa)