Chìa khóa đưa hàng Việt Nam vào ASEAN

THU THỦY, ĐẶNG THÀNH

Thứ tư, 19/12/2018 - 02:01 PM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Doanh nghiệp cần lựa chọn sản phẩm phù hợp, chất lượng tốt khi đưa vào các thị trường mục tiêu. Ảnh: NAM ANH

Khu vực ASEAN được đánh giá là thị trường (TT) mang lại cho các doanh nghiệp (DN) một số lợi thế như: am hiểu văn hóa, xu hướng tiêu dùng phù hợp hàng hóa Việt Nam, chi phí nghiên cứu TT không tốn kém, dễ dàng giao dịch xuất khẩu (XK)… Vậy nhưng không ít hàng hóa Việt Nam lại đang gặp khó khăn ngay tại TT này. Chưa kể, các DN Việt Nam vẫn chưa khai thác được hết những lợi thế, mặc dù rào cản thuế quan trong khu vực đã được dỡ bỏ.

Xa lạ với thị trường quen

Khối ASEAN là TT XK trọng điểm, có tốc độ tăng trưởng nhanh của Việt Nam. Chỉ sau bảy năm (2010-2017), XK của Việt Nam sang khối TT này đã tăng hơn hai lần, từ 10,3 tỷ USD lên 21,7 tỷ USD. Trong đó, Thái-lan, Indonesia, Malaysia, Singapore là những TT chiếm phần lớn tỷ trọng giá trị XK của Việt Nam sang khối này.

ASEAN có nhu cầu nhập khẩu (NK) hàng hóa, nguyên phụ liệu cho sản xuất và tiêu dùng cao. TT này lại có dung lượng lớn với tổng dân số 636 triệu người, GDP đạt 2.760 tỷ USD. Khi Hiệp định thương mại tự do (FTA) ASEAN (ATIGA) chính thức có hiệu lực từ năm 2010, hầu hết các dòng thuế về 0% cũng là một trong những điều kiện thuận lợi thúc đẩy tăng trưởng XK của Việt Nam sang ASEAN.

Tuy nhiên, theo Phó trưởng Phòng Đông - Nam Á, Nam Á và Hợp tác khu vực (Vụ Thị trường châu Á, châu Phi, Bộ Công thương) Nguyễn Đương Kiên, ASEAN là TT gần, có sự tương đồng về văn hóa tiêu dùng và phù hợp DN Việt Nam. Lộ trình giảm thuế rất mạnh (tương ứng 98% dòng thuế về 0%). Có thời điểm cắt giảm thuế mạnh (năm 2010, 2015), nhưng DN không tận dụng được. Việt Nam luôn thâm hụt thương mại với các nước trong ASEAN (bình quân 4-6 tỷ USD), tỷ lệ tận dụng ưu đãi thuế quan trong khu vực còn thấp, đạt 30%. Dường như, những cơ hội này vẫn còn ở trên giấy, còn thực tế DN Việt Nam không dễ tăng trưởng XK.

Phân tích một số TT, ông Nguyễn Đương Kiên cho biết, hàng hóa Việt Nam xuất sang Thái-lan đạt 4,8 tỷ USD năm 2017 và dự kiến đạt 5,7 tỷ USD năm 2018, tăng khoảng 19% (chiếm 2,2% thị phần NK của Thái-lan). Nhiều mặt hàng Việt Nam có tiềm năng XK vào Thái-lan nhưng thị phần còn nhỏ như: săm lốp (5%), thủy sản (7,3%), cà-phê (86% thô, 15% hòa tan), sữa hầu như không XK (dung lượng NK của Thái-lan là 3,4 tỷ USD). Ở chiều ngược lại, Thái-lan xem Việt Nam là TT quan trọng trong ASEAN. Thậm chí, Việt Nam còn giống như là TT “nối dài” của Thái-lan trong khu vực ASEAN. Một số tập đoàn Thái-lan còn mua lại DN sản xuất của Việt Nam để tận dụng các FTA, chiếm lĩnh TT Việt Nam. Đặc biệt, TT Việt Nam cũng là điểm trung chuyển cho hàng Thái, khi mà hơn 90% trái cây Thái-lan xuất qua Việt Nam để sang Trung Quốc.

Về trường hợp cụ thể của DN, ông Phạm Quốc Minh, chuyên viên kinh doanh XK Công ty CP thực phẩm Quốc tế Alpha cho hay, Myanmar đang áp dụng tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm của Mỹ và thay đổi liên tục, bình quân 2-3 năm một lần. Do đó, mặc dù mặt hàng bánh kẹo XK sang Myanmar được hưởng thuế suất 0%, nhưng DN rất khó khăn trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn phi thuế quan. Biến động tỷ giá cũng đã ảnh hưởng việc tính toán chi phí XK của DN.

Tương tự, nhiều mặt hàng Việt Nam XK có tiềm năng vào Malaysia, Indonesia nhưng thị phần còn nhỏ như: gạo, thủy sản, cà-phê, sắt thép các loại, thực phẩm chế biến sẵn, hàng gia dụng… Thậm chí, với TT Lào, trong khi Trung Quốc và Thái-lan chiếm 87% kim ngạch NK, thì Việt Nam chỉ chiếm 7%.

Nhìn lại quá trình tận dụng cơ hội từ TT ASEAN, bà Trần Thị Hà, Viện Chiến lược và Chính sách tài chính (Bộ Tài chính) cho hay, ASEAN là TT XK lớn thứ 4 của Việt Nam, chỉ đứng sau Liên minh châu Âu (EU), Mỹ và Trung Quốc. Tuy nhiên, theo Tổng cục Hải quan, năm 2016, năm đầu tiên Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) chính thức có hiệu lực, kim ngạch XK nông-lâm-thủy sản sang các nước ASEAN chỉ đạt hơn 1,6 tỷ USD, giảm 20,3% so năm 2015. Năm 2016, chỉ có khoảng 9,8% hàng hóa XK của Việt Nam vào ASEAN, thấp hơn nhiều so tỷ lệ XK trung bình trong khu vực là 24%.

Thiếu sự tiếp cận bài bản

DN chưa thật sự tận dụng tốt những ưu đãi thuế quan khi XK hàng hóa sang TT khu vực. Cụ thể, theo thống kê của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), tỷ lệ tận dụng ưu đãi ATIGA năm 2016 là 31,8%, cao hơn năm 2015 là 24,2% nhưng tỷ lệ này vẫn thấp. Chưa kể sự hiểu biết của các DN XK trong nước về AEC còn hạn chế. Chỉ có 46,79% số DN chủ động tìm hiểu thông tin về AEC; trong gần 94% số DN biết về AEC chỉ có 16,4% thật sự hiểu rõ về những cam kết khu vực kinh tế thương mại này.

Ông Hà Xuân Anh, Chủ tịch HĐQT Công ty CP May Sơn Việt, chia sẻ, hàng hóa Việt Nam khó vào ASEAN vì người tiêu dùng (NTD) không biết nhiều về thương hiệu của các DN Việt Nam.

Ông Nguyễn Đương Kiên cho rằng, một trong những lý do khiến hàng Việt Nam khó vào TT ASEAN là vì Việt Nam chưa có hãng bán lẻ nào có thể thâm nhập các nước này. Nói cách khác là không có DN nào đứng ra như nhà bảo trợ để đưa hàng Việt Nam vào ASEAN. Vấn đề nữa là chất lượng hàng hóa. Dường như không ít DN Việt Nam vẫn đang xem ASEAN là TT cấp thấp. Trước đây, tại một hội chợ ở Myanmar, nhiều DN Việt Nam đem quần áo đến để tiếp thị nhưng trông như… “hàng thùng”! Đời sống người dân Myanmar đang tốt lên từng ngày, chất lượng hàng hóa như vậy rất có thể bị tẩy chay. Các DN nên lưu ý, chất lượng sản phẩm hàng hóa của một quốc gia luôn rất ấn tượng trong mắt NTD. Một khi sản phẩm Việt Nam bị định hình là hàng rẻ tiền, việc thay đổi nhận diện sản phẩm rất khó. Hơn ai hết, DN phải chủ động tìm hiểu yêu cầu của từng TT, luôn xem chất lượng sản phẩm là yếu tố hàng đầu. Bên cạnh đó, dù chưa có hệ thống phân phối của người Việt nhưng DN có thể dựa vào hệ thống phân phối, cửa hàng bán lẻ của bà con Việt kiều để đưa hàng hóa tiếp cận NTD trong ASEAN.

PGS,TS Phạm Tất Thắng, Viện Nghiên cứu thương mại (Bộ Công thương) cho rằng, đã đến lúc DN cần chú trọng hơn việc nâng cao chất lượng, mẫu mã sản phẩm và xây dựng thương hiệu để đáp ứng nhu cầu các TT trong khối ASEAN.

Để gia tăng xuất khẩu, các doanh nghiệp cần chú trọng xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại để tiếp cận thị trường. Ảnh: HẢI ANH

Tăng cường xúc tiến thương mại

Để gia tăng XK sang TT này, theo ông Nguyễn Đương Kiên, yếu tố đầu tiên là sự chủ động của DN trong tìm hiểu nhu cầu mặt hàng, tiêu chuẩn cụ thể liên quan lĩnh vực hoạt động và mặt hàng sản xuất, kinh doanh của DN để có chiến lược phù hợp. Để tránh tình trạng bị NTD “mặc định” rằng hàng Việt Nam có chất lượng thấp, DN cần lựa chọn sản phẩm phù hợp, chất lượng tốt khi đưa vào các TT mục tiêu. Ngoài ra, TT ASEAN có một số nước Hồi giáo, DN cũng cần lưu ý.

Theo bà Trần Thị Hà, Nhà nước cần tiến hành các hoạt động xúc tiến thương mại (XTTM) thông qua các trung tâm XTTM và đầu tư, tạo các kết nối cần thiết ở cấp quốc gia và DN với các nước trong khu vực nhằm tăng cường khả năng tiếp cận TT cho các DN XK. Các cơ quan, ban ngành liên quan cũng cần nghiên cứu, phổ biến những quy định mới, sự thay đổi chính sách của các nước trong khu vực về việc NK hàng hóa để các DN kịp thời cập nhật. Việc này sẽ giúp các DN thâm nhập tốt hơn vào TT này. Cùng với đó, để hàng hóa, sản phẩm Việt Nam xuất đi các TT, DN cần phải có chiến lược kinh doanh, theo sát xu hướng tiêu dùng của người dân mỗi nước ASEAN, liên kết với nhà phân phối nội địa có uy tín và năng lực… Đây là việc làm quan trọng, bởi sản phẩm của mỗi nước, mỗi DN đều nằm trong chuỗi giá trị của khu vực hay chuỗi giá trị toàn cầu.

Coi XTTM là “chìa khóa”, Phó Cục trưởng XTTM (Bộ Công thương) Lê Hoàng Tài cho biết, Bộ Công thương cam kết tạo thuận lợi tối đa cho DN khi tiếp cận TT ASEAN. Hằng năm, Bộ đều phối hợp nhiều cơ quan trong và ngoài nước thực hiện các hoạt động XTTM sang TT này. Trong đó, có ba nhóm hoạt động thực hiện đều đặn thường niên và cho hiệu quả thấy rõ: Tổ chức đoàn DN Việt Nam tham gia hội chợ - triển lãm; tổ chức các đoàn DN ASEAN vào Việt Nam và ngược lại. Riêng với TT Myanmar, sắp tới Bộ Công thương sẽ tổ chức Hội chợ hàng Việt Nam tại quốc gia này. Bộ Công thương cũng đang chuẩn bị công tác đàm phán với Chính phủ Thái-lan về việc rà soát giảm hoặc dỡ bỏ một số biện pháp phòng vệ thương mại, thuế quan, làm cơ sở để Bộ Công thương đề xuất với các cơ quan liên quan của Thái-lan.