Tạo lan tỏa từ khu vực FDI

QUỐC BÌNH

Thứ tư, 19/12/2018 - 02:01 PM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Hầu hết các doanh nghiệp FDI chưa tạo ra sự lan tỏa và hình thành các cụm ngành có khả năng cạnh tranh cao.

Mục tiêu thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chất lượng cao đang được nhắc tới, như một trong những động lực quan trọng để kinh tế Việt Nam đạt được các mục tiêu phát triển bền vững. Vấn đề lớn nhất đối với FDI nhìn từ góc độ của Việt Nam là hầu hết doanh nghiệp (DN) hay ngành sản xuất đều như các “ốc đảo”, chưa tạo ra sự lan tỏa và hình thành các ngành có khả năng cạnh tranh cao.

Việt Nam đã và đang là một “công xưởng lớn” của thế giới, với sự hiện diện của nhiều tập đoàn (TĐ) hàng đầu như: Samsung, Canon, Toyota, Honda, Nike… Tuy nhiên, một trong những vấn đề lớn nhất khi thu hút FDI đến nay chưa giải quyết được là bài toán chuyển giao công nghệ, nói cách khác là để các DN trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất của các TĐ đa quốc gia.

Theo Chủ tịch Hiệp hội DN đầu tư nước ngoài Việt Nam Nguyễn Mại, cần điều chỉnh định hướng, chính sách FDI để đạt được chất lượng và hiệu quả cao hơn, trong đó phải thay đổi cách tiếp cận để thích ứng với Cách mạng công nghiệp 4.0. Thực tế cho thấy, những ngành công nghệ tương lai chủ yếu nằm trong tay các TĐ kinh tế hàng đầu trên thế giới của các nước trong Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), chủ yếu là G7. Trong khi đó, Việt Nam mới thu hút được khoảng 100/500 TĐ hàng đầu thế giới.

Bà Lee Soo Hooi, Tổng Giám đốc Intel Products Việt Nam cho rằng, đẩy mạnh cải cách môi trường đầu tư kinh doanh chính là những cam kết quan trọng của Chính phủ, giúp nhà đầu tư (NĐT) tin tưởng vào tương lai của mình.

Theo ông Nguyễn Mại, đây là nhược điểm cần phải khắc phục bằng việc tận dụng cơ hội từ các FTA thế hệ mới như CPTPP, EVFTA. Tuy nhiên, quan trọng hơn là thay đổi cơ bản hoạt động xúc tiến đầu tư hướng vào từng TĐ trên cơ sở tiếp cận chiến lược thương mại đầu tư toàn cầu của họ, cung cấp kịp thời thông tin theo yêu cầu của NĐT, thiết lập mối quan hệ hai chiều để xử lý các vấn đề nảy sinh trong quá trình hình thành và triển khai dự án (DA). Ưu tiên thu hút FDI từ các TĐ hàng đầu thế giới của các nước CN phát triển vào các DA quy mô lớn bằng các hình thức góp vốn hoặc không góp vốn, thúc đẩy nhanh hơn tái cấu trúc kinh tế theo mô hình tăng trưởng mới, coi việc thiết lập mối liên kết theo chuỗi giá trị giữa TĐ hàng đầu thế giới với DN trong nước để tác động lan tỏa của khu vực FDI ngày càng mở rộng.

Nhắc lại nhiều thành quả về thu hút FDI của Việt Nam, ông Kyle F.Kelhofer, Giám đốc Quốc gia cấp cao khu vực Việt Nam, Campuchia và Lào của Tổ chức Tài chính quốc tế (IFC) cho biết, năm 2016, FDI vào Việt Nam cao hơn dòng FDI vào tất cả các nước ASEAN, trừ Singapore. Tính theo tỷ lệ phần trăm GDP, dòng FDI vào Việt Nam đã vượt cả dòng FDI vào Trung Quốc và Ấn Độ, cũng như vào tất cả các nước ASEAN lớn, trừ Malaysia. Trong tổng kim ngạch nhập khẩu (NK) 111,22 tỷ USD, NĐT nước ngoài chiếm tới 58,6% (65,21 tỷ USD). Giá trị NK ở mức cao như vậy cho thấy tính chất hai mặt của nền kinh tế Việt Nam, đó là mức độ hạn chế của giá trị gia tăng trong hàng hóa xuất khẩu (XK) và khả năng khai thác nguồn cung trong nước. Các chỉ số về FDI tuy rất ấn tượng trên mọi chỉ tiêu nhưng vẫn chưa đủ sức tăng cường được sự liên kết giữa DN FDI và DN trong nước, tăng chuyển giao công nghệ, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo và nâng cao đáng kể tỷ trọng giá trị gia tăng nội địa trong hàng XK.

Vấn đề lớn nhất đối với FDI nhìn từ góc độ của Việt Nam là hầu hết DN hay ngành sản xuất đều như các “ốc đảo”, chứ chưa tạo ra sự lan tỏa và hình thành các cụm ngành có khả năng cạnh tranh cao. Theo xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), một số chỉ tiêu về lan tỏa và chuyển giao công nghệ từ FDI của Việt Nam có cải thiện trong giai đoạn 2014- 2017. Tuy nhiên, thực tiễn thứ hạng của Việt Nam còn thấp so các quốc gia trong khu vực như Trung Quốc và Thái-lan. Đáng lo ngại là Việt Nam ở vị trí khá tụt hậu đối với các chỉ số về chất lượng nhà cung cấp tại địa phương, tính sẵn có của công nghệ mới nhất và năng lực hấp thụ công nghệ của DN trong nước.

Bà Nguyễn Thị Tuệ Anh, Phó Viện trưởng Nghiên cứu quản lý kinh tế T.Ư (CIEM) đánh giá, một số mô hình liên kết DN ở những ngành có sự tham gia của các TĐ đa quốc gia lớn đã khá thành công, nhưng chủ yếu cung cấp nguyên, vật liệu đầu vào và gia công. Nguyên nhân chủ yếu ở đây là do nội lực của DN trong nước chưa đủ tầm để thực hiện các chương trình liên kết. Việt Nam cần nghiên cứu xây dựng tiêu chí “liên kết sản xuất” với DN trong nước để xét DA ưu tiên thu hút FDI. Trong đó, các DA có cam kết liên kết sản xuất, chuyển giao công nghệ với DN trong nước sẽ được ưu tiên hơn.

Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng khẳng định, thời gian tới sẽ đa dạng hóa thu hút FDI từ các thị trường và đối tác tiềm năng. Coi trọng các thị trường, đối tác hiện tại như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Mỹ, Anh, Đức… Khai thác có hiệu quả mối quan hệ với các đối tác chiến lược, chú trọng các nước phát triển hàng đầu thế giới, các TĐ xuyên quốc gia nắm giữ công nghệ nguồn, tiên tiến và trình độ quản trị hiện đại.