Nhà nghiên cứu Bùi Quang Thắng:

Để văn hóa Việt đẹp hơn trong mắt bạn bè quốc tế

HOÀNG THU PHỐ (THỰC HIỆN)

Thứ hai, 25/06/2018 - 03:02 PM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Trang phục dân gian luôn mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, nhưng thư tịch xưa nay chưa dành cho nó vị trí xứng đáng. Vì thế, việc mới đây nhà nghiên cứu Bùi Quang Thắng (trong ảnh) cho ra mắt cuốn “Nét cũ duyên xưa” (NXB Lao động) với những khảo tả khá chi tiết về y phục của người Việt đã khiến nhiều người chú ý.

Phóng viên (PV): Khát vọng muốn tô đậm thêm hình ảnh Việt Nam trên tấm bản đồ văn hóa nhân loại đòi hỏi nhiều nỗ lực, thậm chí của cả ngành văn hóa. Vậy một mình anh khi nghiên cứu những nón, áo, guốc, dép của người Việt cách xa chúng ta hàng thế kỷ, có lúc nào anh cảm thấy nản, muốn buông?

Nhà nghiên cứu Bùi Quang Thắng (BQT): Để hình ảnh văn hóa Việt đẹp hơn trong con mắt bạn bè quốc tế đúng là một khát vọng lớn cần tới sự nỗ lực của cả ngành văn hóa. Tôi chỉ hy vọng cuốn sách nhỏ của mình sẽ đóng góp thêm một chút vào nỗ lực chung đó.

Về quá trình tự nghiên cứu của mình, khó khăn lớn nhất mà tôi gặp phải là sự thiếu vắng các tư liệu hình ảnh về trang phục xưa. Tư liệu xưa của người Việt chúng ta thì rất hiếm những hình ảnh minh họa cụ thể. Như trong “Vũ trung tùy bút”, Phạm Đình Hổ kể ra tới 13 loại nón nhưng độc giả ngày nay không thể dựa vào đó để hình dung ra hình dáng của những loại nón đó. Trong thư tịch cổ, hầu như không có hình ảnh minh họa. Bức “Trúc Lâm đại sĩ xuất sơn đồ” của Trần Giám Như có niên đại thế kỷ 14 là một trường hợp ngoại lệ cực kỳ hiếm hoi... Khó khăn này chắc các nhà làm phim lịch sử, phim cổ trang hiểu rõ hơn hết.

PV: Trong quá trình đi tìm nét cũ duyên xưa, đâu là câu chuyện khó quên mà anh muốn chia sẻ?

BQT: Để tìm hiểu thêm về một số nghề thủ công như nghề đan nón, tôi thường về một số làng nghề làm nón truyền thống như làng Chuông và thôn Tri Lễ (Thanh Oai, Hà Nội) để trò chuyện cùng các nghệ nhân. Mùa hè năm ngoái, tôi thực hiện chuyến đi xuyên Việt bằng xe máy để có thể tới những vùng làm nón truyền thống khác như vùng nón Kẻ Hạ (xứ Nghệ xưa, nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh), vùng nón Gò Găng (tỉnh Bình Định)… Có lẽ chuyến đi đáng nhớ nhất là về vùng Kẻ Hạ bởi đó là vùng nghề nón từng được nhắc tới trong “Đại Nam nhất thống chí”, “Đồng Khánh dư địa chí”, “Yên Hội thôn chí”..., cũng như được nhắc tới rất nhiều trong báo chí đầu thế kỷ 20. Có thể nói rằng Kẻ Hạ từng là vùng nghề nón nổi tiếng nhất, thế nhưng khi tôi về đó hỏi thăm thì hầu hết người dân địa phương đều không biết rằng đã từng tồn tại nghề làm nón trên quê hương họ… Về sau, tôi được một cán bộ UBND xã Tùng Ảnh giới thiệu để liên hệ với các cụ cao tuổi trong xã. Và khi tôi sang ngồi nghỉ bên một tiệm tạp hóa ngay đối diện UBND thì tình cờ gặp được những người đầu tiên biết về nghề nón xưa, đó là vợ chồng ông bà Giang, hơn 70 tuổi, chủ tiệm.

May mắn nhất là tôi gặp được cụ Kỷ ở thôn Chi Nội, 93 tuổi, cụ chính là một người thợ nón năm xưa. Cuộc chuyện trò với cụ Kỷ có thể nói là đáng ghi nhớ nhất vì tôi được nghe lại tất cả những điều mà sách vở, báo chí xưa nay từng ghi chép về vùng nón Kẻ Hạ.

Bìa cuốn “Nét cũ duyên xưa”.

PV: Trong “Nét cũ duyên xưa”, phần Nón thúng và Áo dài được anh dành một số trang tương đối nhiều. Điều đó có ngụ ý gì?

BQT: Tôi rất thích hình ảnh Nón thúng, có thể nói nón thúng như một dấu ấn đặc biệt để nhận diện trang phục Việt. Đó cũng là ấn tượng mà những người phương Tây nhận thấy khi họ mới đặt chân tới nước ta. Charles Hocquard, một bác sĩ quân y Pháp từng có mặt ở Đông Dương cuối thế kỷ 19, tác giả cuốn “Une campagnie au Tonkin” đã gọi nó là “thứ trang nhã nhất trong toàn bộ y phục của họ” (tức là trang phục của phụ nữ Bắc Kỳ). Còn với Áo dài, tôi rất thích quá trình tiếp biến của nó, từ khi được ra đời là để “học theo phong tục phương Bắc” (tức Trung Hoa) cho đến khi trở thành một dấu ấn văn hóa Việt rất rõ rệt. Thế nên, đây cũng là hai chương lớn trong cuốn sách của tôi với nhiều tranh ảnh minh họa.

PV: Ứng xử với trang phục truyền thống của người Việt hiện nay có điều gì đáng lưu ý, thưa anh?

BQT: Một số loại hình nghệ thuật biểu diễn hiện nay như sân khấu Chèo, dân ca Quan họ… thường xuyên được mang đi giới thiệu với bạn bè quốc tế. Trang phục được sử dụng trong những loại hình nghệ thuật biểu diễn này hiện nay cũng thường được xem như một phần không thể tách rời. Việc giữ cho các di sản ấy không chỉ đẹp ở hồn cốt bên trong mà còn đẹp cả hình dung bên ngoài là điều hết sức quan trọng.

Thế nhưng hiện nay, rất nhiều trang phục biểu diễn được cách điệu hết sức tùy tiện, lòe loẹt và kém thẩm mỹ, điều này hẳn sẽ tác động đến việc cảm nhận về văn hóa Việt trong mắt bạn bè quốc tế cũng như ảnh hưởng tới nhận thức của thế hệ trẻ về di sản văn hóa của cha ông. Thế nên, tôi cho rằng, ngoại trừ những trường hợp mà sự cách điệu, biến tấu là cần thiết do những đòi hỏi đặc trưng của nghệ thuật biểu diễn, thì các diễn viên, nghệ sĩ cũng cần nâng cao nhận thức để có những ứng xử phù hợp vai trò và trách nhiệm của họ trong việc bảo tồn những di sản văn hóa truyền thống.

PV: Trân trọng cảm ơn anh!