Nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng Vĩ:

Đáp ứng người hát, dân ca sẽ càng phong phú

QUANG HƯNG (THỰC HIỆN)

Thứ hai, 18/06/2018 - 02:00 PM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng Vĩ sáng tác lời mới cho hò khoan Lệ Thủy.

Tác giả của bài “Ăn ở dưới thuyền”, “Sương giăng bến nước”… được hát như quan họ cổ hiện nay; viết 170 lời mới cho hò khoan Lệ Thủy - Quảng Bình, nhiều bài đang được các nghệ nhân ưa chuộng. Với nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Nguyễn Hùng Vĩ, đó là kết quả của quá trình sống hết mình với dân ca. Ông chia sẻ với Thời Nay.

Phóng viên (PV): Duyên đẹp nào đưa ông đến niềm say mê viết lời cho dân ca?

Nhà nghiên cứu Nguyễn Hùng Vĩ (NHV): Quá trình tìm hiểu dân ca đồng bằng Bắc Bộ cũng như dân ca nói chung, tôi được gặp các nghệ nhân, tác giả tài năng và nhận ra rằng, từ những con người như thế, kho tàng dân ca phát triển mạnh. Tác phẩm được họ sáng tác ra, trở thành truyền thống cho số đông thưởng thức, diễn xướng, lan tỏa. Tôi rất nể phục ông Nguyễn Trung Phong người Diễn Châu - Nghệ An, từng là Phó Giám đốc Sở Văn hóa ngày trước, ông chuyển điệu, đặt lời, khai thác chèo, ca trù… một cách tài tình, làm giàu cho ví dặm Nghệ Tĩnh. Hay nhà thơ Võ Quê, một người viết Cổ bản dựng rất khéo, mặc dù rất khó. Nhiều bài ông viết, chứa đầy phong vị cổ xưa. Rồi cố nghệ nhân quan họ Nguyễn Đức Sôi, một người có vốn từ Hán Nôm phong phú, rất nhiều bài cụ viết sau năm 1974, được khai thác từ dân ca Bắc Bộ, Trung Bộ, chèo, tuồng… đã trở nên những gì mà hôm nay ta gọi là… “quan họ cổ”. Chính cụ khuyến khích khi tôi làm việc với cụ… Những người đó đem lại cho tôi sự động viên lớn cũng như phương pháp, kinh nghiệm viết lời cho dân ca.

PV: Vậy đến với hò khoan Lệ Thủy, chắc phải có thôi thúc và hứng thú nào đó?

NHV: Hơn hai năm trước vào khảo sát tại Quảng Bình, tôi nhận thấy nhu cầu có bài ca mới của nghệ nhân, bà con tham gia diễn xướng di sản này là rất lớn. Từ bài đầu tiên tôn vinh đức Phật hoàng Trần Nhân Tông viết ngày 16 tháng Chạp năm 2015, tính đến nay tôi đã viết 170 bài ca dài, ngắn khác nhau. Tôi nhấn mạnh là bài ca theo lối dân gian, có thể gồm nhiều trổ, có thể chỉ cần vài câu, đáp ứng cho việc thể hiện một làn điệu nào đó. Điều sung sướng là rất nhiều bài mọi người xin, in sẵn một tập mang theo rồi cũng tặng hết, nhiều bài đã được sử dụng thường xuyên trong sinh hoạt văn nghệ cộng đồng, nhiều khi tôi đang ngồi ở nhà, trong đó có người gọi điện ra nhờ, xin bài mới, tôi lại viết gửi cho họ (cười).

PV: Thực tế mà ông khảo sát phải chăng có sự “vênh” với những lo lắng về sự suy thoái, vắng bóng của dân ca trong đời sống hiện đại?

NHV: Tôi trực tiếp khảo nghiệm và thấy nhu cầu lớn không chỉ với hò khoan Lệ Thủy, là có thật. Các nghệ nhân, nghệ sĩ dân gian vốn thích hát, thích người ta nghe mình hát như một hạnh phúc được khẳng định mình trước cộng đồng. Trong sinh hoạt dân ca, người ta có tâm lý thích hát những bài mình có mà người khác không có như một sự ganh đua rất đáng yêu. Vì thế người ta hay tìm bài “lạ, hiếm” vốn khó hát, ít được hát trong kho tàng bài ca; hoặc tìm những bài là kết quả của chuyển làn, nắn điệu; và những bài viết lời mới trên giai điệu cổ - là con đường mà tôi đang làm. Bây giờ nhiều nơi thích hát trong đám cưới, mừng nhà mới, mừng thọ, hội nghị, họp lớp, kể cả đám hiếu… Có được bài mới, có người giữ rịt lấy (cười). Bởi một lý do rất thiết thực nữa là ai “dày vốn” thì hay được mời như một kiểu dịch vụ văn nghệ cơ sở. Nếu hai, ba người, cộng với một người đàn nữa, hát tốt cho một kỳ cuộc nào đó, đã có 200 - 300 nghìn đồng/người rồi, có nơi còn hướng đến 500 nghìn đồng. Nhìn rộng ra, sẽ thấy dân ca, nhạc cổ được dùng trong nhiều kỳ cuộc đấy chứ. Nếu đáp ứng cho họ hát, thúc đẩy sự đa dạng cho kho tàng dân ca thì ta sẽ góp phần làm phong phú, làm mới cho di sản.

PV: Nhưng đâu phải cứ muốn là có thể viết được lời mới cho dân ca. Đặc biệt là viết cho ra được phong vị truyền thống, không khí cổ xưa, dân dã, chứ không phải những bài giai điệu xưa nhưng lời cứ hào nhoáng, trôi tuột đi. Xin ông chia sẻ một số kinh nghiệm của mình?

NHV: Tôi nhớ tháng 7-1974, trên một chuyến tàu, nhóm sinh viên Nghệ An chúng tôi tình cờ ngồi cùng nhạc sĩ Dân Huyền khi đó đã công tác ở Đài Tiếng nói Việt Nam. Biết chúng tôi học văn khoa, ông bảo, viết đi chứ, viết lục bát đưa cho tôi, tôi “chế biến” đủ các làn điệu đưa lên phát thanh. Tôi đã thử nhưng không thành công, bởi chưa có kinh nghiệm, phương pháp.

Khi cố nhạc sĩ Hồng Thao gọi quan họ cổ là những bài ca có từ trước năm 1945, và giai đoạn sau đó, có tác giả hẳn hoi, nhưng được viết theo lối cổ, tôi có hỏi tại sao, ông nói người ta sáng tạo bằng tư cách nghệ nhân chứ không phải tư cách bác học thì sẽ ra thành quả. Tôi đã làm theo cách đó, viết trong vai một nghệ nhân, tức là không còn coi đó là của riêng mình nữa, mà làm sao đạt yêu cầu cho mọi người là được. Viết cho hò khoan Lệ Thủy, tôi chọn bộ ngôn ngữ thế kỷ 19 được khai thác từ Truyện Kiều, truyện thơ. Ngoài ra, phải biết được đủ các làn điệu, đọc được phẩm chất thẩm mỹ của giai điệu nghiêng về mặt nào - vui, buồn, hỉ, nộ, ái, ố… để đưa lời mới có sắc thái phù hợp vào. Biết vận dụng kho tàng thành ngữ, tục ngữ cũng rất có lợi. Đồng thời, cũng phải hiểu phong cách hát của nghệ nhân, ưu điểm, hạn chế để có thể viết riêng cho họ. Tôi còn viết những bài dài như các “mô đun”, như một hoạt cảnh gồm nhiều tổ hợp, để người hát có thể chọn lựa linh hoạt, thích đoạn nào thì có thể “nhặt” nó sang hát trong bài ca khác…

PV: Như vậy thì quả là khó thưa ông! Nhưng có lẽ sẽ không quá thách thức nếu tác giả chung được nhịp đập với dân ca đó. Xin chúc ông sức khỏe và dồi dào sáng tạo mới!