Người Hà Nội

THỤY ANH

Thứ hai, 27/08/2018 - 01:29 AM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Ảnh: MINH LÊ

Tôi không biết chắc bác có phải gốc gác Hà Nội không. Nhưng trong suy nghĩ của tôi, đó là một người rất Hà Nội. Hà Nội nhất trong những người Hà Nội mà tôi biết.

Muốn lên đến nhà bác, tôi phải bắt tàu điện từ Mơ đi một lèo lên Bờ Hồ. Từ đó tôi đi bộ vào tiếp, qua phố Hàng Dầu đầy dép guốc, là đến.

Một góc phố cổ. Phố Hàng Bè.

Phố ấy, thời tôi còn bé, cũng chưa từng vắng vẻ. Mỗi lần lên đó, tôi thấy cả một thế giới náo nhiệt, đông vui. Một căn gác bí ẩn! Đối với một đứa trẻ chỉ từng ở căn hộ tập thể như tôi, bất kỳ một ngôi nhà riêng cao tầng nào cũng đã khiến tôi thấy thích thú. Song ngôi nhà gác nơi phố cổ lại lôi cuốn tôi hơn nhiều. Vì trên ấy, có gió từ Hồ Gươm thổi vào. Và từ trên đó có thể nhìn xuống một Hà Nội nho nhỏ không tĩnh lặng với dòng xe đạp bất tận trên đường hẹp, với tiếng rao lảnh lót của những gánh hàng rong không vắng mặt bao giờ trên đường, cho dù là sáng, trưa hay chiều tối, thậm chí là đêm muộn.

Bác tôi. Bác là một người quen, một người bạn của gia đình tôi. Nhưng từ lâu, từ cái thời xa xưa cũ kỹ nào đó, khi chúng tôi mỗi lần đau ốm, bố mẹ lại cậy nhờ đến bác, thì bác đã trở thành người thân của nhà tôi rồi.

Bác là trưởng nam của cụ Cao Cương, một thầy thuốc Đông Y có tiếng. Bác làm trong ngành Bưu chính, nhưng ở nhà, bác vẫn giữ nghề gia truyền là bắt mạch, bốc thuốc. Bác gái cũng làm cùng ngành Bưu điện, một người phụ nữ phúc hậu, tóc vấn cao, chu đáo và khéo léo.

Một dạo tôi cứ hay nhảy tàu điện, một mình đến nhà bác, để bác chữa bệnh cho. Năm ấy tôi độ 10 tuổi, là một đứa bé ít nói và rụt rè. Nhưng hay quan sát và hay nhớ. Tôi nhớ, nhớ cho đến mãi sau này, cho đến bây giờ, những buổi chiều còn nắng, bác đón tôi bằng một ấm trà. Bác tinh ý sớm nhận ra là đứa trẻ này vốn thích uống trà vì từ nhỏ ở với ông nội.

Dường như, cái thủ tục pha trà của bác là một liệu pháp làm thần kinh tôi dịu đi. Đi qua một đoạn đường quá dài đối với tuổi tôi hồi đó, mồ hôi vẫn còn rịn trên trán và tim còn đập hối hả. Ngồi vào chiếc ghế cổ mầu đen, theo dõi bàn tay người rót nước sôi tráng từng chiếc chén nhỏ, đoạn, đổ trùm nước nóng lên cả bên ngoài chiếc ấm sứ con. Làn nước trôi lọt xuống màng khay lọc, để lại ấm trà còn thoáng khói bốc lên. Chén trà rót ra từ chiếc ấm ấy bỗng như nóng bỏng hơn, mà cũng đượm mầu hơn.

Bác làm việc đó với vẻ khoan thai kỳ lạ. Vẻ điềm đạm ấy của bác khắc vào lòng tôi một cảm giác bình tâm. Không hiểu sao, tôi cứ nghĩ, người Hà Nội là phải như thế. Điềm đạm, khoan thai, luôn trân trọng trong xử thế với người, hay khi làm một việc đơn giản là tráng ấm pha trà!

Chỉ sau một tuần trà, bác mới bắt mạch cho tôi, với một chiếc gối bé kê dưới cổ tay. Mạch của tôi khi ấy hẳn đã đập bình tĩnh, yên ổn.

Cảm giác bình tâm yên ổn luôn trở lại với tôi sau này, khi đã gần hai chục năm biền biệt xứ người, mỗi lần tôi nhớ về hai bác, về căn gác nhỏ ở góc phố Hàng Bè, về sự yên tịnh kỳ lạ có được giữa những xôn xao hàng phố.