Xuất khẩu lao động, “rào cản”chưa được gỡ bỏ

AN NHƯ

Thứ năm, 24/05/2018 - 08:08 AM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Để hạn chế tình trạng lao động bỏ trốn bất hợp pháp, cần siết lại quy định trong tuyển chọn. Ảnh: SONG ANH

Năm 2018 là thời điểm đến hạn xem xét việc tiếp nhận lao động giữa chính phủ hai nước Hàn Quốc và Việt Nam (Chương trình EPS). Nguy cơ mất thị trường lao động tại Hàn Quốc hoàn toàn có thể xảy ra khi số lượng lao động Việt Nam bỏ trốn và cư trú bất hợp pháp tại đất nước này hiện khoảng 15.000 người. Đây là rào cản trong lĩnh vực xuất khẩu lao động nhưng đã nhiều năm vẫn chưa được gỡ bỏ.

Cơ quan quản lý đau đầu

Nguyễn Mạnh X (28 tuổi) quê ở xã Cương Gián (huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh) từng là lao động (LĐ) bỏ trốn tại Hàn Quốc sau khi hết hạn hợp đồng. Năm 2016, X bị trục xuất về nước. X đã kể lại những tháng ngày chui lủi trốn tránh nhà chức trách Hàn Quốc: “Sau khi hết hạn hợp đồng, em tìm được việc tại một nhà máy gia công đồ nội thất, sơn sắt thép ở ngoại ô Seoul. Cuộc sống của em chỉ quanh quẩn trong nhà máy và phòng trọ rộng chưa đầy 20 m² dành cho ba người. Mỗi tháng em được trả gần 30 triệu đồng tiền lương, trừ chi phí sinh hoạt, dành dụm hơn 20 triệu đồng gửi về cho gia đình. Tuy nhiên, chuyện nợ lương xảy ra như cơm bữa và những LĐ bất hợp pháp như em không dám kêu ca với chủ, thậm chí có những LĐ bị quỵt lương và lại tìm cách “nhảy việc”.

X nói, những LĐ bất hợp pháp chẳng có quyền lợi gì. Không có bảo hiểm, sống chui lủi nên biết chủ sai phạm, đối xử tệ nhưng phải im lặng vì chẳng biết tố cáo với ai, sợ bị bắt. “Ở đây, người Việt chủ yếu lao động chân tay nên rất hay bị tai nạn, song chẳng có bảo hiểm cũng không dám đến bệnh viện chữa trị. Lần nào gọi điện về nhà cũng bảo sống tốt, công việc tốt nhưng thật ra em không muốn để gia đình phải lo, tắt máy em chỉ biết khóc”, X nói. Có nhiều đồng hương làm việc bên Hàn nhưng sau khi cư trú bất hợp pháp thì X không dám gặp họ vì sợ bị nhà chức trách địa phương bắt. Cuộc sống của X chỉ quanh quẩn trong phòng trọ sau 12 giờ làm việc mỗi ngày. Tuy nhiên, cuộc sống đó cũng chỉ kéo dài gần hai năm và em đã bị cảnh sát bắt giữ trong một lần đi siêu thị và bị trục xuất về nước.

Ông Đặng Sỹ Dũng, Phó Cục trưởng Quản lý lao động ngoài nước, thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ-TB&XH) nhận định: “Tỷ lệ LĐ Việt Nam hết hạn hợp đồng vẫn ở lại Hàn Quốc cư trú bất hợp pháp là việc khiến cơ quan quản lý đau đầu. Việc bỏ trốn hay cư trú bất hợp pháp tại bất kỳ quốc gia nào đều ẩn chứa những rủi ro khôn lường. Và thường thì cuộc sống ngầm hay thị trường ngầm đều có những quy luật nghiệt ngã mà chỉ người trong cuộc mới thấu hiểu. Giữ uy tín của cá nhân khi cam kết một hợp đồng, cũng là cách các bạn giữ uy tín cho quốc gia, đặc biệt trong câu chuyện xuất khẩu lao động (XKLĐ) thì còn là giữ đất làm ăn cho đồng hương ở chuyến tiếp theo”, ông Đặng Sỹ Dũng nhấn mạnh.

Những năm gần đây, Hàn Quốc là một trong những thị trường XKLĐ trọng điểm của Việt Nam. Theo thống kê, Hàn Quốc hiện đang tiếp nhận khoảng 107.000 người Việt Nam sinh sống, học tập và làm việc, trong đó có hơn 40.000 LĐ làm việc theo Chương trình EPS.

Hoạt động XKLĐ sang Hàn Quốc đã từng bị gián đoạn bốn năm do quá nhiều LĐ sang Hàn Quốc rồi trốn ra ngoài làm việc. Việc hai bên ký lại Bản ghi nhớ bình thường về tiếp nhận LĐ theo Chương trình EPS mới được ký lại vào tháng 5-2016, và chỉ có giá trị trong vòng hai năm. Trong biên bản, phía Hàn Quốc đưa ra điều kiện nếu tỷ lệ NLĐ Việt Nam cư trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc vượt quá 4% so mức hai bên cam kết thì sẽ dừng việc đưa LĐ Việt Nam sang Hàn Quốc làm việc.

Các doanh nghiệp Hàn Quốc trực tiếp phỏng vấn tuyển lao động. Ảnh: NAM ANH

Biện pháp chưa đủ mạnh

Một trong những biện pháp nhằm tháo gỡ “rào cản” LĐ bỏ trốn là mới đây, Bộ LĐ-TB&XH đã thông báo về việc tạm dừng tuyển chọn LĐ theo Chương trình EPS năm 2018 tại một số địa phương.

Theo đó, có 107 quận/huyện có tỷ lệ hơn 30% số LĐ hết hạn hợp đồng không về nước thuộc 12 tỉnh, thành phố trực thuộc T.Ư có số LĐ cư trú bất hợp pháp cao nhất tại Hàn Quốc, thuộc diện đưa vào xem xét tạm dừng tuyển chọn trong năm 2018. Cụ thể, 12 tỉnh, thành phố bị cấm XKLĐ Hàn Quốc năm 2018 là: Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Hà Nội, Hải Dương, Thái Bình, Nam Định, Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng Bình, Hưng Yên, Phú Thọ.

49 quận/huyện có số lượng LĐ cư trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc từ 60 người trở lên trong số 107 quận/huyện nêu trên cũng bị tạm dừng tuyển chọn LĐ trong năm 2018. Bộ LĐ-TB&XH cho biết, căn cứ thông báo của phía Hàn Quốc về số lượng và tỷ lệ LĐ cư trú bất hợp pháp vào thời điểm cuối năm 2018, Bộ sẽ tiếp tục tạm dừng tuyển chọn trong năm 2019 tại các địa phương không giảm được tỷ lệ LĐ cư trú bất hợp pháp. Đồng thời, dỡ bỏ việc tạm dừng đối với những địa phương giảm được tỷ lệ và số lượng LĐ cư trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc.

Theo nhiều chuyên gia, lý do LĐ Việt Nam bỏ trốn, không chịu về nước, chủ yếu do mức lương LĐ được nhận khi đi XKLĐ Hàn Quốc. Trung bình thu nhập của NLĐ từ 25 đến 30 triệu đồng, có người lên đến 40-50 triệu đồng/tháng. Các nhà máy địa phương, công trường xây dựng ở Hàn Quốc rất nhiều, nên NLĐ dễ tìm việc. Các ông chủ cần một lượng lớn nhân công, kể cả tay nghề không cao, nên vẫn chấp nhận thuê LĐ bất hợp pháp.

Trong khi đó, biện pháp ký quỹ trước khi đi XKLĐ ở quê nhà thì chỉ áp dụng từ năm 2013, trong khi nhiều LĐ bỏ trốn từ trước thời điểm trên và không chịu ảnh hưởng của việc ký quỹ. Thậm chí, trong suy nghĩ của LĐ bất hợp pháp, thì đi làm khoảng nửa năm là bù lại được tiền ký quỹ hay tiền phạt. Rồi nếu trốn ở lại, làm càng lâu, số tiền kiếm được càng nhiều.

Bên cạnh đó, vẫn còn không ít doanh nghiệp (DN) chưa thực hiện đúng cam kết với NLĐ, thu phí của NLĐ quá cao, thậm chí có cả “phí môi giới”... Đó là chưa kể một số DN tuyển chọn LĐ thông qua các khâu trung gian nên không kiểm soát được chất lượng LĐ và không quản lý được việc thu tiền của NLĐ. Chính vì phải bỏ ra một khoản tiền khá lớn trước khi sang nước ngoài làm việc, nên nhiều LĐ Việt Nam luôn luôn có tâm lý là phải kiếm thật nhiều tiền để “thu hồi vốn”, bất chấp việc vi phạm pháp luật nước sở tại. Ngoài ra, một trong các hình thức “cưỡng chế” đối với NLĐ đi làm việc ở nước ngoài là bắt họ phải ký quỹ, đặt cọc..., vô hình trung lại tạo ra cái vòng luẩn quẩn và “kích thích” NLĐ bỏ trốn nhiều hơn. Ý kiến nhiều chuyên gia cũng cho rằng, chính khoản tiền ký quỹ này như một gánh nặng đối với LĐ phải đầu tư ban đầu, càng làm cho LĐ tìm cách bỏ ra ngoài làm việc nhằm trang trải nợ nần.

Cùng với đó, sự thiếu đồng bộ trong hành lang pháp lý, cùng với thủ tục trình tự xét xử phức tạp, việc tìm kiếm lao động bỏ trốn ở nước ngoài để đưa ra tòa không hề đơn giản, cho nên đến nay hầu như chưa có trường hợp lao động bỏ trốn nào bị đưa ra tòa.

Cần nhiều giải pháp đồng bộ

Các chuyên gia cho rằng, để hạn chế tình trạng lao động bỏ trốn bất hợp pháp, cần siết lại quy định trong tuyển chọn LĐ, nâng mức chế tài không chỉ đối với DN có LĐ bỏ trốn cũng như thu phí của NLĐ cao hơn mức quy định của pháp luật mà với cả NLĐ nếu có hành vi phá vỡ hợp đồng, bỏ trốn ra ngoài làm ăn phi pháp. Bên cạnh đó, giải pháp căn cơ vẫn là khắc phục những bất cập được cho là nguyên nhân khiến LĐ bỏ trốn, đó là nâng thời hạn hợp đồng XKLĐ, cho NLĐ đi làm việc 5 năm thay vì mức thông thường là 3 năm như hiện nay. Được như vậy, NLĐ sẽ yên tâm làm việc, không có tâm lý trốn chui, trốn lủi ở nước sở tại để kiếm thêm tiền.

Bên cạnh đó, cần có chính sách hỗ trợ vay vốn với lãi suất thấp cho đối tượng LĐ xuất khẩu. Đồng thời, giảm các thủ tục xuất - nhập cảnh… nhằm hạn chế việc LĐ bỏ trốn để làm thêm, vì đã phải vay lãi cao phục vụ việc đi LĐ nước ngoài.

Ngoài ra, cần quan tâm tạo việc làm cho NLĐ khi họ trở về nước, nên chăng gắn trách nhiệm giới thiệu việc làm cho LĐ xuất khẩu về nước đối với các DN XKLĐ.