Mở rộng cơ chế tự chủ cho toàn hệ thống đại học

THẾ PHONG (THỰC HIỆN)

Thứ tư, 19/12/2018 - 02:01 PM (GMT+7)
Font Size   |         Print

Văn phòng Chủ tịch nước vừa công bố Lệnh của Chủ tịch nước ban hành Luật Giáo dục Đại học (GDĐH), có hiệu lực từ ngày 1-7-2019. Vụ trưởng Giáo dục Đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) Nguyễn Thị Kim Phụng (trong ảnh) (NTKP) đã trao đổi ý kiến với báo chí về một số nội dung đáng chú ý chung quanh luật này.

Phóng viên (PV): Lộ trình tự chủ ĐH từ trước đến nay chậm so kỳ vọng. Vậy tự chủ ĐH sẽ mở và được đẩy nhanh ra sao với việc Luật GDĐH có hiệu lực từ ngày 1-7-2019?

Bà NTKP: Với chính sách bao trùm là tự chủ, thì cơ chế tự chủ tới đây sẽ mở rộng cho toàn hệ thống (trước đây là năm ĐH và sau đó thí điểm ở 23 trường). Nhìn chung, chúng tôi thấy các trường rất trông đợi luật lần này. Các trường sẽ có điều kiện phát huy sự năng động, sáng tạo của mình trong tất cả các phương diện hoạt động: học thuật, tài chính, nhân sự làm sao cho hiệu quả nhất để phục vụ chính sách chất lượng phát triển của nhà trường để cạnh tranh trong toàn hệ thống và với quốc tế.

Các điều khoản mới trong Luật GDĐH lần này sẽ giúp giảm đáng kể thời gian về thủ tục hành chính. Đơn cử, trước đây là phải báo cáo, đăng ký, đợi sự cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới được mở ngành đào tạo, tuyển dụng bổ nhiệm nhân sự cấp cao. Nay trường sẽ được quyết ngay sau khi có đủ điều kiện. Đó là những cơ chế thúc đẩy cho hệ thống phát triển.

PV: Luật GDĐH mới cho phép các trường được mở ngành ở tất cả các trình độ trên cơ sở các điều kiện. Vậy chúng ta sẽ kiểm soát việc này như thế nào?

Bà NTKP: Các trường được tự quyết định việc mở ngành mà không phải xin phép hay đăng ký cơ quan quản lý về chuyên môn như trước đây. Còn luật vẫn phải giữ các điều kiện mở ngành, tiêu chuẩn chất lượng để mở ngành. Nếu trường đủ điều kiện mở ngành về chương trình, cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên thì sẽ được mở ngành. Nhưng điều kiện để trường tự quyết định cũng được nâng cao hơn.

Trước đây, cũng cơ quan thẩm quyền kiểm duyệt, nay cơ quan thẩm quyền không cấp phép nữa, nhưng các trường phải chứng minh nội lực của mình. Thí dụ, trường phải được kiểm định rồi thì mới được mở các ngành của trình độ ĐH. Ngành đào tạo của trình độ ĐH phải được kiểm định rồi thì mới được mở các ngành đào tạo thạc sĩ tương ứng. Ngành đào tạo thạc sĩ được kiểm định rồi mới được mở ngành tiến sĩ phù hợp. Đó là những cơ chế để kiểm định chất lượng.

Ngoài ra, việc mở ngành còn phải do hội đồng trường (HĐT) quyết định. Mà HĐT trường theo quy định mới, không chỉ những người trong trường mà còn cả những người ngoài trường với tỷ lệ tối thiểu là 30% là các nhà quản lý, nhà hoạt động xã hội, nhà khoa học, các cơ quan của tổ chức khác. Những người này sẽ xem xét việc xã hội có cần ngành học đó hay không, điều kiện bảo đảm chất lượng của trường có đủ đáp ứng yêu cầu đào tạo của ngành học đó hay không. Điều đó có nghĩa, nhà trường phải cân nhắc tới năng lực của mình có đáp ứng được yêu cầu đào tạo đó không.

Các trường được tự quyết định việc mở ngành khi chứng minh được nội lực. Ảnh: NG.HẢI

PV: Có nhiều ý kiến cho rằng, chất lượng đào tạo tại chức không thể bằng chính quy, đây cũng là lý do khiến văn bằng tại chức không được coi trọng. Gần đây có một số bài báo trích dẫn ý kiến một vài đại biểu QH cho rằng, việc quy định không phân biệt văn bằng tại chức và chính quy sẽ dẫn tới đào tạo tràn lan hệ tại chức và không bảo đảm chất lượng GDĐH. Bà có thể cho biết ý kiến về vấn đề này?

Bà NTKP: Văn bằng chỉ nhằm quy định trình độ đào tạo cao hay thấp, rồi lĩnh vực hay ngành học đó để xác định chuyên môn đào tạo của người đó như thế nào. Hình thức đào tạo không ghi trên văn bằng, dù vừa học vừa làm, học tập trung hay đào tạo từ xa đều phải trên một chương trình thống nhất, có thời lượng thống nhất, cùng trên chuẩn giảng viên, chuẩn đầu ra như nhau; cùng phải thực hiện cùng một khung trình độ quốc gia.

Như vậy, không có lý do gì để phân biệt văn bằng chính quy - tại chức. Tuy nhiên, nếu nhìn một cách tổng thể thì ta có thể thấy hình thức chính quy hay tại chức, vừa làm vừa học thì vẫn có trường tốt và không tốt, có người đạt trình độ cao và có người chỉ đạt trình độ tiêu chuẩn. Như vậy, vấn đề chất lượng ĐH chính quy hay tại chức ở đây là do chính sách chất lượng của từng trường và do nỗ lực của từng người học để lấy kiến thức thực thụ hay học để lấy tấm bằng, chứ không phụ thuộc quá lớn vào hình thức văn bằng, hình thức đào tạo.

PV: Luật GDĐH sửa đổi có hiệu lực vào ngày 1-7-2019 tới đây. Bộ GD&ĐT đã chuẩn bị thế nào để luật sớm đi vào cuộc sống?

Bà NTKP: Thực tế ngay khi dự thảo sửa Luật, chúng tôi cũng đã chuẩn bị danh mục các văn bản hướng dẫn. Bộ GD&ĐT sẽ xây dựng hai nghị định hướng dẫn trực tiếp, đó là Nghị định hướng dẫn chung Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật GDĐH và Nghị định riêng hướng dẫn về tự chủ ĐH. Hiện nay cả hai nghị định đều có dự thảo.

Bộ cũng đã rà soát lại tất cả các quy chế đào tạo như đào tạo trình độ cao đẳng sư phạm, trình độ thạc sĩ, văn bằng hai... Các quy chế đào tạo đều phải điều chỉnh để phù hợp những quy định mới nhất của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật GDĐH với tinh thần trao quyền tự chủ cho các trường ĐH. Các trường ĐH đều đã nắm được nội dung, tinh thần của những điều chỉnh lần này. Có thể nói, họ đã sẵn sàng cho triển khai Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật GDĐH.

PV: Xin trân trọng cảm ơn bà!