Hồ Chí Minh và cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam

Thứ Ba, 19/05/2015, 01:50:37
 Font Size:     |        Print

(Tiếp theo và hết) (*)

Song ở Việt Nam, mọi việc vẫn chưa dừng lại. Trước khi Pháp thua trận, Mỹ đã có ý định can thiệp. Washington (Oa-sinh-tơn) và phố Wall (Uôn) muốn bành trướng thế lực tới châu Á. Một số tài liệu cho thấy đến năm 1954, Mỹ đã viện trợ tới 80% số chi phí cho quân đội viễn chinh Pháp tại Việt Nam. Ngoại trưởng Mỹ là J.F.Dulles (Ða-lét) từng đề nghị gửi vũ khí hạt nhân giúp Pháp sử dụng đánh Việt Nam. Sau thất bại ở Ðiện Biên Phủ, Pháp đã buộc phải tham gia đàm phán tại Geneva (Giơ-ne-vơ) và rút khỏi Việt Nam.

Tuy nhiên theo Hiệp định Geneva, Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền. Sự độc lập của Việt Nam sẽ được công nhận nếu cuộc bầu cử thống nhất đất nước hai năm sau đó không bị phá hoại bởi chính quyền bù nhìn Ngô Ðình Diệm được Mỹ hậu thuẫn. Mỹ không ký hiệp định Geneva, do đó Washington ủng hộ Diệm cho đến khi người này bị giết năm 1963, sau đó lập các chính phủ bù nhìn khác. Việt Nam vốn đã là một quốc gia nhỏ bé, kém phát triển, buộc phải tiếp tục chiến đấu 21 năm nữa với cỗ máy chiến tranh của Lầu Năm Góc. Không ai có thể ngờ là Mỹ đã ném nửa triệu quân vào Việt Nam để chống lại lực lượng cách mạng, tàn sát dân lành. Tuy nhiên, điều đó đã diễn ra, quan trọng hơn nó cho thấy ý thức chính trị, tổ chức Ðảng vững mạnh đã đưa Việt Nam tới chiến thắng lịch sử. Năm 1968, nhà báo Australia (Ô-xtrây-li-a) là W.Burchet (Bớc-xét) đã đặt nhan đề một cuốn sách do ông xuất bản là Việt Nam sẽ thắng. Trong đó ông mô tả quá trình đào tạo quân giải phóng để thực hiện nhiệm vụ kháng chiến trong lòng địch: "Họ chỉ được đào tạo cơ bản trong 15 ngày rồi nhận súng, đó là nếu khóa học không bị gián đoạn giữa chừng.

Năm ngày đầu tiên dành cho chính trị". Những người cộng sản Việt Nam cho rằng, để thực hiện công cuộc giải phóng, lực lượng kháng chiến cần có bản lĩnh chính trị vững vàng, không có sự phân biệt giữa người lính được đào tạo bài bản với nhân dân. Hàng triệu người dân đùm bọc bộ đội trong kháng chiến, cung cấp thực phẩm, nơi trú ẩn, thông tin cho họ. Quân giải phóng đã thực hiện một cuộc chiến tranh nhân dân. Ðiều đó giải thích vì sao quân đội Mỹ thường tiến hành những cuộc thảm sát thường dân. Thực tế không thể phân biệt được quân giải phóng với nhân dân, vì rất nhiều người có cảm tình với họ. Do đó, Mỹ và chính quyền bù nhìn buộc phải thay đổi chiến thuật để cô lập quân giải phóng. Mỹ dồn người dân vào ấp chiến lược khi biết họ đã cung cấp thức ăn và chỗ trú ẩn cho bộ đội. Ðây là một kiểu trại tập trung để cắt đứt liên hệ giữa bộ đội với nhân dân. Lầu Năm Góc dùng vũ khí hóa học, chất độc da cam để khai quang rừng núi, nhằm xóa bỏ nơi ẩn náu của quân giải phóng, phá hoại mùa màng. Khi chiến thuật này thất bại, thì Mỹ đã ném bom vào vùng giải phóng. Trong cuốn sách mới xuất bản có nhan đề Giết mọi thứ di động, những tài liệu về tội ác chiến tranh Việt Nam được N.Turse (Tớc-xơ) tìm ra cho thấy thảm sát Mỹ Lai không phải là cá biệt. Ðể chứng minh "thắng lợi" của mình dựa trên việc đếm xác chết, Lầu Năm Góc không ngại ngần thúc đẩy các vụ thảm sát thường dân. Thế nhưng hàng triệu người bị đẩy khỏi quê hương để tới các đô thị chỉ khiến phong trào kháng chiến mở rộng. Khắp mọi nơi, dân chúng có cảm tình với quân giải phóng. Trong thực tế, sự kiện Tết Mậu Thân cho thấy ngay cả nhân viên lái xe cho Ðại sứ quán Mỹ cũng là người của quân giải phóng. Chính họ dẫn đường quân giải phóng tiến công Ðại sứ quán. Sau chiến tranh, một thông tin khác cũng được tiết lộ rằng một trong những người đứng đầu biệt động Sài Gòn là phụ nữ. Bà ngụy trang bằng cách làm việc trong một câu lạc bộ của lính Mỹ. Bà thu thập thông tin tại đây và cung cấp cho quân giải phóng.

Năm 1968, sau sự kiện Mậu Thân, Mỹ buộc phải đồng ý mở các cuộc đàm phán để chấm dứt chiến tranh. Kịch tính đầu tiên là Việt Nam cho thế giới thấy họ đánh giá rất cao vai trò của phụ nữ khi bổ nhiệm bà Nguyễn Thị Bình làm Trưởng đoàn của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền nam Việt Nam tham dự các cuộc đàm phán hòa bình ở Paris (Pa-ri). Sự xuất hiện của một người phụ nữ thuộc lực lượng kháng chiến tại Pháp đã tạo hiệu ứng rất lớn tới phong trào phản chiến và phong trào phụ nữ trên thế giới. Bà Nguyễn Thị Bình đã tham gia hoạt động trong phong trào cộng sản Việt Nam từ năm 1948 khi bà mới 21 tuổi. Bà bị người Pháp giam giữ từ năm 1951 đến năm 1953. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, bà trở thành Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng, Phó Chủ tịch Hội Phụ nữ giải phóng miền Nam Việt Nam. Năm 1969, bà được cử làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao thuộc Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và đóng vai trò rất quan trọng trong cuộc đàm phán hòa bình tại Paris, đối mặt với bà là Ngoại trưởng Mỹ H.Kissinger (Kít-xin-giơ) - người luôn bóng gió về việc nước Mỹ có thể sẽ dùng vũ khí hạt nhân trong chiến tranh Việt Nam. Ngày 17-1-1973, bà tham gia ký Hiệp định Paris. Sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng, bà là Phó Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam trong hai nhiệm kỳ liên tục từ năm 1992 tới năm 2002. Lực lượng giải phóng thường xuyên nhấn mạnh vai trò của phụ nữ trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bằng cách gửi các phái đoàn gồm các nữ quân nhân hay cựu tù binh tới các hội nghị quốc tế. Năm 1970, nhiều người trong chúng ta khi đó ở tổ chức Thanh niên phản đối chiến tranh và chủ nghĩa phát-xít đã vinh dự gặp họ trong hội nghị tại Toronto (Tô-rôn-tô) (Ca-na-đa). Một trong số các phụ nữ ấy từng bị giam trong "chuồng cọp" khét tiếng - được xây dựng để tra tấn tù nhân Việt Nam. Nhiều người trong số họ đã phải đi bộ hàng cây số xuyên rừng rậm, bất chấp máy bay Mỹ thường xuyên đánh bom rải thảm, để tới nơi an toàn. Từ đó, họ mới có thể đến được hội nghị.

Tổng tiến công Tết Mậu Thân là một đòn giáng mạnh vào giới cầm quyền Mỹ và tay sai bù nhìn cũng như lộ rõ thủ đoạn chính trị dối trá của họ về bản chất chiến tranh Việt Nam, nhưng chưa đủ làm chính quyền R.Nixon (Ních-xơn) và Lầu Năm Góc chùn tay. Họ quyết định leo thang ném bom miền bắc Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia bất chấp phong trào phản chiến ngày một lan rộng ngay tại nước Mỹ và trong quân đội Mỹ. Ngay từ tháng 8-1966, nhà vô địch quyền anh hạng nặng thế giới M.Ali (A-li) đã từ chối nhập ngũ, thẳng thắn tuyên bố: "Việt cộng không bao giờ gọi tôi là mọi đen". Tháng 4-1967, M.L.King (Kinh) có bài phát biểu nổi tiếng chống chiến tranh tại nhà thờ Riverside (Ri-vơ-sai). Cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân rõ ràng đã làm suy yếu nước Mỹ. Nixon và các tướng lĩnh Mỹ buộc phải tuyên bố "Việt Nam hóa chiến tranh". Thật ra đó là sự thoái lui của quân đội Mỹ, song trước đó họ hoàn tất kế hoạch huấn luyện cho đội quân bù nhìn và mở các cuộc tấn công vào các vùng lãnh thổ của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền nam Việt Nam. Thậm chí họ trắng trợn vi phạm các điều khoản ký kết tại Hiệp định Paris (1973). Và công việc chuẩn bị cho trận chiến đấu cuối cùng của quân giải phóng đã được Ðại tướng Văn Tiến Dũng viết trong cuốn sách Ðại thắng Mùa xuân xuất bản tại Việt Nam sau năm 1975. Ông cho biết, tháng 10-1974, Bộ Chính trị và Ðảng ủy Quân sự Trung ương đã phân tích tình hình trong nước và quốc tế để xây dựng kế hoạch tổng tiến công. Họ kết luận rằng, các yếu tố chính trị, kinh tế và quân sự của chính quyền Sài Gòn đang suy yếu, Mỹ đã ở ngoài cuộc và không thể cứu chế độ này. Họ cũng thấy sự phát triển của phong trào phản chiến cũng như tình cảm của nhân dân thế giới dành cho cách mạng Việt Nam. Họ chuẩn bị cuộc tiến công nổi dậy năm 1975 như cách thức trước đây với Ðiện Biên Phủ và Tết Mậu Thân. Trong hai tháng, chế độ Sài Gòn sụp đổ, và chúng ta chưa quên cảnh đồng minh nam Việt Nam hối hả leo lên máy bay trực thăng trên nóc Ðại sứ quán Mỹ để tháo chạy. 30-4-1975 trở thành ngày giải phóng miền nam, Sài Gòn được đổi tên thành thành phố Hồ Chí Minh trong một nước Việt Nam đã hoàn toàn thống nhất. Tuy nhiên, Mỹ chưa bao giờ trả một xu bồi thường hậu quả chiến tranh. Dù đáng lý, cần làm thế để xây dựng lại đất nước mà người Mỹ đã tàn phá. Họ để lại một di sản của cái chết và sự hủy diệt, với ước tính khoảng 13,5 triệu nạn nhân. Sau năm 1975, theo ước tính có khoảng 40.000 người Việt Nam tiếp tục thiệt mạng do bom đạn của quân đội Mỹ để lại, hàng triệu người và con cháu họ chịu ảnh hưởng nặng nề từ di chứng do chất độc hóa học gây ra...

Toàn bộ kinh nghiệm, bài học quý báu của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc Việt Nam có thể gói gọn trong câu khái quát: "Sức mạnh của toàn thể nhân dân mạnh hơn máy móc của kẻ thù", nhất là khi sức mạnh của toàn thể nhân dân Việt Nam đều tập trung vào cùng một mục đích. Họ bắt đầu sự nghiệp giải phóng dân tộc với những vũ khí thô sơ như cung tên, và các nhà cách mạng cộng sản đã lãnh đạo, bồi dưỡng ý chí, quyết tâm và cùng rút ra những kinh nghiệm, để từ đó tạo nên một lực lượng mạnh mẽ chống đế quốc xâm lược. Ðó là cách họ đã đánh bại đội quân hùng mạnh nhất trên thế giới. Hồ Chí Minh và các đồng chí của ông đã không chỉ khôn ngoan trong các chiến thuật quân sự, mà còn biết cách tiếp cận mọi tầng lớp tiến bộ trong xã hội Việt Nam, từ những nhóm tôn giáo, các dân tộc thiểu số đến sinh viên, trí thức, công nhân, nông dân,... để tập hợp, đoàn kết trong một lực lượng duy nhất làm nên sự nghiệp giải phóng. Xa hơn, họ kết nối với toàn thể giai cấp công nhân cùng các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới để cùng chiến thắng kẻ thù. Nói cách khác, thì lý tưởng cộng sản chính là "chìa khóa" giúp họ giành chiến thắng.

Tuy nhiên, Hồ Chí Minh đã không được chứng kiến chiến thắng cuối cùng của dân tộc mình vào năm 1975. Người ra đi vào năm 1969, nhưng dù thế, Người vẫn luôn tin tưởng vào kết quả cuối cùng. Nhân đây, tôi cũng kêu gọi các đồng chí hãy đọc bản Di chúc của Người. Ðó là một tài liệu quý giá, và tôi trích dẫn từ đó một số nội dung liên quan tới ý chí, niềm tin của Người: "Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài. Ðồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn... Ðồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to - là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc... Ðiều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Ðảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới". Những người cộng sản Việt Nam đã làm được điều đó.

----------------------------------------

(*) Xem Báo Nhân Dân từ số ra ngày 15-5-2015.

VIỆT QUANG (Lược dịch)

Chia sẻ