Bình luận - Phê phán

Nhân danh lịch sử để xuyên tạc lịch sử Việt Nam

Thứ Hai, 02/11/2015, 21:01:33
 Font Size:     |        Print

Vừa qua, một quỹ văn hóa ở Việt Nam đã trao giải thưởng năm 2015 cho một số tác giả, trong đó có K. Tay-lo (K. Taylor) - một sử gia Mỹ. Trong diễn văn tại lễ trao giải, người thay mặt tổ chức này nói: “Keith Taylor là một trong những nhà Việt Nam học nổi tiếng nhất, cả ở Việt Nam, cả ở nước ngoài” và “cảm ơn Keith Taylor vì tình yêu chân chính và nỗ lực trằn trọc của ông cho khoa học lịch sử Việt Nam, cho Việt Nam”. Vậy K. Tay-lo là ai, ông ta đã nghiên cứu lịch sử Việt Nam như thế nào? Bài viết hai kỳ của tác giả Nguyễn Đình sẽ giúp trả lời các câu hỏi, xin giới thiệu cùng bạn đọc.

(Kỳ 1)

Như tự bạch trong bài Tôi bắt đầu dạy về chiến tranh Việt Nam như thế nào (How I Began to Teach about the Vietnam War) đăng trên số mùa thu năm 2004 ấn phẩm ra hàng quý do Đại học Mi-si-gân phát hành (Michigan Quarterly Review) - bài này sử dụng bản dịch của Thái Anh trên diendannguoidanvietnam.com nhưng xin phép sửa đôi chữ do dịch chưa sát nguyên văn) thì K. Tay-lo tốt nghiệp đại học tháng 5-1968. Lúc đó, do tác động của cuộc tổng tiến công và nổi dậy của quân dân miền nam Việt Nam, chính phủ Mỹ đã không cho sinh viên tiếp tục hoãn quân dịch rộng rãi như trước. K. Tay-lo hoặc “bị bắt quân dịch và bị gửi đi bất cứ nơi nào để làm bất cứ một phận sự gì”, hoặc “chọn cho mình một nhiệm vụ trong quân đội”, và K. Tay-lo chọn hướng thứ hai: xin gia nhập ngành quân báo để được huấn luyện về tình báo và tiếng Việt trong hai năm với hy vọng “may ra chiến tranh sẽ kết thúc trước khi năm học được hoàn tất”. Hy vọng đó không thành sự thật, vì K. Tay-lo bị đẩy sang chiến trường Việt Nam năm 1970 với cấp bậc trung sĩ.

K. Tay-lo kể tiếp: “Tôi nhận thấy một vấn đề ở Việt Nam: quân đội Mỹ đang trong chiều hướng bị mất tinh thần. Sau khi công luận quay lưng lại với cuộc chiến vào năm 1968, phong trào phản chiến thâm nhập vào quân đội Mỹ ở Việt Nam. Tất cả các vấn nạn thường thấy trong cuộc chiến như xì ke, xung đột sắc tộc, bạo hành, giết hại nhau và bất phục tùng đều là bằng chứng đã ảnh hưởng đến tinh thần tác chiến của quân đội và, ít ra theo hiểu biết của tôi, chúng có liên quan đến sự kiện: do hệ quả của sự lãnh đạo tồi, nước Mỹ không còn ủng hộ chiến tranh, song chúng tôi vẫn đang được kỳ vọng phải tiếp tục chiến đấu. Các nhà lãnh đạo trong quân đội, cả quân nhân lẫn dân sự, nhận ra sự cần thiết phải “tái phối trí” quân đội ra khỏi Việt Nam càng nhanh càng tốt để ngăn chặn tinh thần bất mãn lan rộng sang các chiến tuyến khác trên thế giới. Trong khi đó, chúng tôi đã được yêu cầu thử thời vận của mình như là “người tử trận cuối cùng ở Việt Nam”… Rõ ràng tôi đã bị ảnh hưởng bởi não trạng bất mãn này. Đối với tôi, dường như cuộc chiến đang bị thua và chúng tôi, chỉ đơn giản là hậu vệ có thể bị hy sinh. Tôi không thích điều đó. Tôi trở nên nghi ngờ cấp trên của tôi, cảm nhận rằng sự thất trận mà chúng tôi đang tham gia ít nhất đã giúp cho sự nghiệp của họ cơ hội thăng tiến, trong khi với các phần tử còn lại trong chúng tôi chỉ còn một băn khoăn giữa sự sống hay cái chết”.

Rồi K. Tay-lo bị thương, giữa năm 1971 được giải ngũ và trở về Mỹ với tâm trạng “choáng váng và mất phương hướng”. Ông ta viết: “Tôi giận dữ vì đã phải hy sinh tuổi trẻ của mình cho sự vô dụng của người già”. Vì vậy, “trong hơn hai thập niên, tôi cưỡng lại tư tưởng của bản thân rằng mình là một cựu chiến binh của cuộc chiến tranh Việt Nam. Tôi muốn được trở về với cuộc sống và không được mô tả bởi câu chuyện đau buồn đó. Tôi không thích Đài tưởng niệm ở Oa-sinh-tơn D.C với tên của tất cả những người tử vong được khắc trên một bức tường đá. Đó là đài tưởng niệm cho người chết, nhưng tôi là một người sống sót và bức tường không có liên hệ gì với tôi”. Để “trở về với cuộc sống”, tháng 1-1972, K. Tay-lo làm nghiên cứu sinh tại Đại học Mi-si-gân. Vì trước đó đã học tiếng Việt, nên K. Tay-lo chọn lịch sử Việt Nam cổ đại (từ khi lập quốc đến giữa thế kỷ 10) làm đề tài luận án, và xem đó là “một lối thoát an lành cho kinh nghiệm rối ren của cá nhân tôi đối với cuộc chiến Việt Nam”. Luận án bảo vệ năm 1976, được sửa chữa, in thành sách xuất bản năm 1983 với nhan đề Sự ra đời của Việt Nam (The Birth of Vietnam). K. Tay-lo tránh chọn đề tài liên quan đến lịch sử Việt Nam hiện đại vì không muốn đụng tới cuộc chiến tranh mà ông ta đã tham dự.

Lâu nay, hầu hết người Mỹ luôn tự hào đất nước họ là siêu cường số một thế giới, đánh đâu thắng đó, cho nên họ không thể nuốt trôi thất bại trước một dân tộc nhỏ bé, chưa phát triển như Việt Nam. Bên nỗi buồn chiến bại là mặc cảm tội lỗi, vì nước Mỹ đã ném bom, rải hóa chất độc, thảm sát, tra tấn… gây bao tang thương chết chóc cho nhân dân Việt Nam. Nhiều nhà nghiên cứu Mỹ đã chỉ ra các sai lầm suốt 30 năm (1945-1975) trong chính sách đối với Việt Nam của các đời tổng thống Mỹ. Như R. Mắc Na-ma-ra, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, người được xem là “kiến trúc sư của chiến tranh Việt Nam”, sau một thời gian im lặng, đã thừa nhận: “Chúng tôi đã sai lầm, sai lầm khủng khiếp” (R. McNamara: Hồi tưởng quá khứ - Tấn thảm kịch và những bài học ở Việt Nam [In Retrospect - The Tragedy and Lessons of Vietnam], NXB Times Books, New York, 1995, tr.xvi). Do những sai lầm ấy, cho nên, tuy chiến tranh đã kết thúc, nhưng nó vẫn tiếp tục phủ bóng đen lên lương tâm người Mỹ. Tâm trạng đó được khái quát thành khái niệm “hội chứng Việt Nam”. Vì từng tham chiến ở Việt Nam, K. Tay-lo khó tránh khỏi bị “hội chứng” ấy dày vò. Như ông ta tâm sự: “Rất nhiều năm, kinh nghiệm chiến trường của tôi giống như một cục bướu lớn không tiêu hóa nổi vẫn nằm sâu trong tâm thức”, và thừa nhận nếu thỉnh thoảng bị yêu cầu nói về chiến tranh ở Việt Nam: “Tôi luôn ngán ngẩm khi phải làm điều đó, bởi vì nói chuyện trước công chúng về cuộc chiến thường mang lại cho tôi cảm giác buồn nôn”.

Một số người Mỹ hiếu chiến lại không muốn nước Mỹ đắm chìm trong “hội chứng Việt Nam”, vì sợ ảnh hưởng đến vai trò của Mỹ trên trường quốc tế. R. Ri-gân lên tiếng kêu gọi: “Chúng ta đã sống với “hội chứng Việt Nam” trong thời gian quá lâu… Năm tháng trôi qua, người ta nói với chúng ta rằng hòa bình sẽ đến nếu chúng ta ngưng can thiệp và trở về nước. Đã đến lúc chúng ta thừa nhận rằng sự nghiệp của chúng ta là cao quý… Chúng ta sẽ làm ô danh việc tưởng nhớ 50.000 thanh niên Mỹ đã chết trong sự nghiệp ấy nếu chúng ta cứ cảm thấy phạm tội như thể chúng ta làm một điều gì đó xấu hổ và chúng ta bủn xỉn trong việc đối xử với người trở về” (www.reagan.utexas.edu)! Sau hô hào của R. Ri-gân, khuynh hướng “xét lại chiến tranh Việt Nam” xuất hiện trong giới nghiên cứu lịch sử ở Mỹ nhằm biện hộ cho sự can thiệp quân sự của Mỹ. K. Tay-lo tìm đến khuynh hướng này với mong ước “vứt bỏ cảm giác tội lỗi sai lầm về cuộc chiến tranh mà [ông ta] đã cưu mang khoảng một phần tư thế kỷ”. Năm 1998, ông ta viết bài Các xung đột vùng miền giữa các dân tộc Việt từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 19 (Regional Conflicts among the Viêt Peoples between the 13th and 19th Centuries - in trong Chiến tranh và hòa bình ở Đông Nam Á [Guerre et Paix en Asie du Sud-Est], NXB L’Harmattan, Paris, 1998 - Chúng tôi sử dụng bản dịch của Lê Quỳnh trên tạp chí Xưa và Nay, số 269 và 270, tháng 10-2006). Ngày 26-6-2003, trả lời phỏng vấn của BBC, ông ta đưa ra “một cái nhìn mới về lịch sử Việt Nam”. Mùa thu năm sau, trên tạp chí Michigan Quarterly Review, K. Taylor giải thích “bắt đầu dạy về chiến tranh Việt Nam như thế nào”. Cách đây hai năm, K. Tay-lo xuất bản cuốn Một lịch sử của người Việt Nam (A History of the Vietnamese - Cambridge University Press ấn hành, New York, 2013). Trong cuốn sách này cũng như các bài viết đã liệt kê ở trên, K. Tay-lo tự phủ nhận những gì ông ta viết trong cuốn sách đầu tiên Sự ra đời của Việt Nam.

Không khó để chỉ ra các sai lầm nghiêm trọng trong kiến thức và nhận thức của K. Tay-lo. Một số nhà nghiên cứu trong nước và nước ngoài đã viết nhiều bài phê bình. Như GS N.G. Ô-oen đã đưa ra một số nhận xét về cuốn Một lịch sử của người Việt Nam: “Về việc Mỹ dính líu, K. Tay-lo để lộ ra sự mâu thuẫn lớn trong suy nghĩ, và chương trọng yếu cuối cùng (Từ hai nước trở thành một nước trang 561 đến trang 619) có lẽ là chương gây tranh cãi nhiều nhất. Ông ta xuất hiện như người cuối cùng (…) bảo vệ chế độ VNCH chống lại cả người cộng sản (…) lẫn người Mỹ (…). Ông ta không biết hay tránh né việc những người tả khuynh phê phán Mỹ phá hoại Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954, khiêu khích hay ngụy tạo sự kiện vịnh Bắc Bộ năm 1964, phá hoại cuộc đàm phán ở Pa-ri năm 1968, “bí mật” ném bom Cam-pu-chia năm 1969, ném bom Hà Nội vào dịp lễ Chúa giáng sinh năm 1972 mà không có lý do rõ ràng. Thay vào đó, ông ta lại phẫn nộ với A. Ha-ri-man và nhóm của ông này tại Bộ Ngoại giao vì đã xúi giục việc lật đổ Ngô Đình Diệm là “thành tích gây tai họa nhất của Ken-nơ-đi ở Việt Nam” (tr.589) và với những người có trách nhiệm trong việc rút lại sự ủng hộ của Mỹ năm 1975 để VNCH phải “tử thương bởi một đồng minh lật lọng” (tr.626) (…). Ông ta xem việc đột nhập vào Cam-pu-chia và Lào là tích cực trong việc tạo ra thời gian để Việt Nam hóa chiến tranh và như vậy giúp chế độ Sài Gòn “thành công trong việc ổn định miền Nam Việt Nam” (tr.606 - 607) ít ra là cho tới khi Mỹ bán đứng chế độ Sài Gòn bằng Hiệp định hòa bình Pa-ri năm 1973, “vứt bỏ chủ quyền của Đệ nhị Cộng hòa” (tr.612 - 613)”. Vẫn theo GS N.G. Ô-oen, thì trong cuốn sách kể trên, K. Tay-lo cũng đã “đánh giá lại một vài lãnh tụ bị nhiều tiếng xấu ở miền Nam”. Mặc dù thừa nhận họ có nhiều thiếu sót sai lầm, ông ta miêu tả Ngô Đình Nhu là người có nhiều ý định dân chủ (tr.581), khẳng định Nhu bị ghét vì ông duy trì an ninh có hiệu quả và chống lại sự giám hộ của Mỹ (tr.577), Nguyễn Cao Kỳ tỏ ra “không có tì vết tham nhũng nào” (tr.593), Nguyễn Văn Thiệu - được ca tụng một cách yếu ớt hơn - được coi là không “tham nhũng thái quá hay lạm quyền quá đáng” (tr.607)…

Trong bài viết này, chúng tôi không có ý định kể ra tất cả sai lầm trong cuốn sách Một lịch sử của người Việt Nam và các bài viết của K. Tay-lo, mà chỉ muốn tìm hiểu cái ông ta gọi là “một cái nhìn mới về lịch sử Việt Nam” gồm hai điểm:

1. Việt Nam không phải là một dân tộc thống nhất sống trên một lãnh thổ thống nhất(?)

Đất nước Việt Nam trải dài trên 15 vĩ độ, từ đỉnh Lũng Cú (23°22’59 Bắc) tới mũi Cà Mau (8°30’ Bắc) và lãnh thổ Việt Nam được mở rộng dần về phía nam. Do đó, việc hình thành những vùng miền là điều tự nhiên. Nhưng dù ở đâu và được ghi vào bản đồ Việt Nam lúc nào thì các vùng miền đó đều là những bộ phận hợp thành của một Tổ quốc Việt Nam duy nhất và thống nhất. Cường điệu một số điểm khác biệt giữa các vùng miền, K. Tay-lo lại chia nước Việt Nam thành ít nhất năm vùng miền: Đông Kinh (tức vùng đồng bằng sông Hồng, lấy Hà Nội làm trung tâm), Thanh Nghệ Tĩnh (gồm ba tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh), Thuận Quảng (gồm bốn tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam và TP Đà Nẵng), Bình Định và Nam Bộ. Điều đáng nói là K. Tay-lo không chỉ chia cắt lãnh thổ mà còn buộc các vùng miền này vào tình huống thường xuyên mâu thuẫn, đối kháng với nhau, thường xuyên xung đột với nhau, như ông ta viết: “Trong những năm mà tôi đề cập, không có giai đoạn nào mà những người nói tiếng Việt không đánh lẫn nhau hoặc giao chiến với các nước láng giềng”!

(Còn nữa) NGUYỄN ĐÌNH

Chia sẻ