Bình luận - Phê Phán

Để bình đẳng giới ngày càng thực chất và có tính bền vững

Thứ Ba, 12/07/2016, 04:23:53
 Font Size:     |        Print

Cho đến nay, từ việc được khẳng định trong Hiến pháp mà nhiều chủ trương, chính sách của Nhà nước đã triển khai, nhiều nỗ lực được thực thi để quyền của phụ nữ được khẳng định, cụ thể hóa trong cuộc sống. Nhưng trên thực tế, để đạt được bình đẳng giới, chúng ta còn nhiều việc phải làm...

Có thể nói, một trong các yếu tố chủ yếu đẩy tới tình trạng bất bình đẳng giới ở Việt Nam là gắn việc lo toan, chăm sóc gia đình cho phụ nữ. Điều này không chỉ là quan niệm của nam giới và xã hội, mà trong nhiều trường hợp chính phụ nữ cũng coi đó là “thiên chức” của mình. Vì có xu hướng phụ nữ đặt gia đình lên trên hết, nên để giữ cho gia đình ổn định, nhiều phụ nữ ở Việt Nam sẵn sàng hy sinh sự bình đẳng của mình. Phải chăng suy nghĩ này là điều tâm niệm chung của người phụ nữ cho nên không dễ loại bỏ? Trên thực tế, nếu so với thành tựu phát triển kinh tế - xã hội trong mấy chục năm qua, thì tiến bộ về bình đẳng giới ở Việt Nam là chưa tương xứng. Theo báo cáo năm 2015 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về kết quả thực hiện Chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2015, tiến bộ bình đẳng giới ở Việt Nam còn chậm, đôi khi còn trì trệ, và ở một số lĩnh vực còn có sự thụt lùi, còn lúng túng về các giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới và tiến bộ của phụ nữ. Theo báo cáo của Diễn đàn kinh tế thế giới vào năm 2014, khoảng cách giới toàn cầu của Việt Nam đã từ thứ 42 (năm 2007) xuống thứ 76 (năm 2014)… Tình trạng này đặt ra câu hỏi về nguyên nhân của sự trì trệ, về cách thức giải quyết thách thức, gỡ bỏ các yếu tố đang cản trở nỗ lực thu hẹp khoảng cách hai giới.

Từ trong lịch sử, phụ nữ Việt Nam đã chịu tác động sâu sắc và lâu dài của những quan niệm truyền thống về tôn ti trật tự trong gia đình - gia tộc, về vị trí của người phụ nữ trong thang bậc địa vị xã hội phong kiến. Những quan niệm này chủ yếu có nguồn gốc từ các tín điều Nho giáo. Mỗi phụ nữ Việt Nam từ khi sinh ra, gần như đã được đặt sẵn trong một “khuôn phép” gia đình (rộng hơn nữa là gia tộc). Vì những giá trị truyền thống đó, họ như mặc nhiên thừa nhận và sẵn sàng hy sinh cả sự tiến bộ, hạnh phúc của mình để làm tròn vai trò chăm sóc gia đình. Những quan niệm đó đã và còn bám rễ trong tâm thức, ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi của cả nam giới và nữ giới trong mọi tầng lớp của xã hội. Và được thể hiện từ chuyện trọng nam trong quan niệm sinh con trai, con gái đến việc coi thường năng lực của phụ nữ trong mọi công việc xã hội nói chung. Vì thế, đến hôm nay, phần đông người Việt Nam vẫn quan niệm rằng, con trai gắn liền với những giá trị biểu trưng truyền thống liên quan nối dõi tông đường và thờ cúng tổ tiên, còn con gái chỉ liên quan đến các công việc thực tế hơn: sinh nở, chăm sóc chồng, chăm sóc cha mẹ... Trong gia đình, phụ nữ hầu như không có thời gian cho riêng mình, phải làm phần lớn việc nhà. Kết quả phỏng vấn trong một nghiên cứu năm 2015 của Viện Nghiên cứu phát triển xã hội (ISDS) cho biết: Trong 14 công việc gia đình chủ yếu, phụ nữ đảm nhiệm 12 đầu việc, đặc biệt là công việc liên quan đến chăm sóc con cái; hơn 60% số phụ nữ được hỏi đã trả lời rằng họ đã làm những việc nhà từ trước 18 tuổi, trong khi con số này ở nam giới chỉ là 25%; những công việc gia đình của phụ nữ còn mở rộng đến cả việc chăm sóc hai bên gia đình nội - ngoại, còn nam giới chỉ xuất hiện trong những tình huống cần đến hình ảnh đại diện, như cúng giỗ, dự các cuộc họp bàn công việc của cộng đồng, gia tộc hoặc họp phụ huynh; phần lớn phụ nữ cũng không phải là chủ sở hữu hoặc đồng sở hữu với nam giới về đất đai và những tài sản lớn; trong nhiều trường hợp, con gái không được chia, hoặc được chia phần tài sản ít hơn so với con trai...

Bất bình đẳng giới còn biểu hiện rất rõ trong các tiêu chí liên quan tới đạo đức, cụ thể là dư luận dường như tỏ ra “khoan dung” với tự do tình dục của nam giới hơn là nữ giới, thậm chí lên án nhiều hơn với phụ nữ nếu có hành vi tương tự. Và nhiều hệ quả khác của bất bình đẳng giới còn thể hiện ở tình trạng phụ nữ thường là nạn nhân của bạo lực gia đình, bạo hành tình dục. Họ cũng mất phần lớn hoặc thậm chí không có quyền chủ động với những biện pháp kế hoạch hóa gia đình dù được khuyến cáo. Ngoài xã hội, phụ nữ thường chịu nhiều định kiến và ít có cơ hội. Về phân công lao động xã hội, phụ nữ cũng thường dễ chấp nhận không đi làm hoặc làm công việc thu nhập thấp để dành thời gian cho việc chăm sóc chồng con, cũng như hai bên gia đình nội - ngoại. Việc khuôn phụ nữ vào vai trò chăm sóc đã hạn chế các cơ hội của họ trong học tập, theo đuổi sự nghiệp, tham gia công việc xã hội. Cũng theo điều tra xã hội học của ISDS, có tới 20% số phụ nữ phải nghỉ học vì phải làm việc nhà so với tỷ lệ 7,3% của nam giới. Năng lực học tập của phụ nữ cũng thường được đánh giá thấp hơn nam giới. Phụ nữ cũng không được khuyến khích học cao hơn chồng (để tránh xung đột gia đình). Thậm chí nhiều bé gái phải nghỉ học để nhường nguồn kinh phí eo hẹp cho anh hoặc em trai. Có thể dẫn ra rất nhiều ý kiến cho rằng, phụ nữ chỉ nên học đến một trình độ nhất định, để dành thời gian cho gia đình. Nhiều nam giới không muốn yêu và kết hôn với phụ nữ có học vấn cao hơn mình, thậm chí có người cho rằng, một gia đình sẽ không hạnh phúc nếu người vợ có học vấn cao hơn chồng...

Về nghề nghiệp và việc làm, hiện phụ nữ làm việc trong nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp cao hơn hẳn so với nam giới; đồng thời họ chiếm số đông ở khu vực việc làm không chính thức, có quy mô nhỏ. Ở nhà, họ thường phải làm công việc chăm sóc vật nuôi, quản lý gia đình. Điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều quyền lợi xã hội của họ (bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế...). Công việc của phụ nữ thiên về phía khu vực không chính thức cũng làm họ mất đi cơ hội học tập, thăng tiến trong sự nghiệp. Bên cạnh đó, cơ hội tham gia bộ máy chính quyền của nam giới vượt hơn so với phụ nữ. Thời gian tham gia hoạt động xã hội của phụ nữ cũng ngắn hơn nam giới. Nam giới tham gia công tác và đảm nhiệm các vị trí xã hội khi tuổi còn trẻ hơn, thời gian tham gia kéo dài hơn. Phụ nữ tham gia khi độ tuổi không còn trẻ, giảm đi khi họ chưa đủ già. Số liệu điều tra của ISDS cho biết: Tỷ lệ nam giới tham gia chính quyền địa phương cao gấp ba lần so với phụ nữ. Tỷ lệ nam giới giữ vị trí lãnh đạo trong đảng ủy hiện nay đang gấp đôi phụ nữ, trong UBND cao gấp bảy lần so với phụ nữ. Một trong những nguyên nhân lý giải hiện tượng này được số đông cho là vì “nam có “tố chất” lãnh đạo hơn phụ nữ; nam quyết đoán, khoáng đạt, có tầm nhìn; phụ nữ thì phức tạp, ganh tị, nghĩ ngắn...”.

Sự khác biệt sinh học giữa các giới tính không thể là cơ sở để biện minh cho bất bình đẳng giới. Quan điểm cũ bảo vệ sự bất bình đẳng giới do phân biệt nam - nữ có nguồn gốc sinh học đang bị phê phán và thay thế bằng quan điểm cho rằng: Giới không phải là một biểu hiện của sinh học hay của sự phân cực bất biến của nhân loại hay một đặc tính của con người, đó là một khuôn mẫu trong cách vận hành xã hội và các hoạt động sống hằng ngày đã được định hình bởi những sắp xếp đó. Ngày nay nhờ hệ thống giáo dục tương đối ổn định, học sinh đã được dạy phải “ứng xử đúng đắn” với vai trò giới tương ứng với những đặc điểm sinh học có sẵn (nam/nữ) của chúng. Những quan niệm truyền thống cứng nhắc về các giá trị, vai trò của nam giới và nữ giới được xem là nguyên nhân cơ bản của bất bình đẳng giới ở Việt Nam.

Để giải quyết vấn đề bất bình đẳng giới ở Việt Nam trước hết cần thay đổi từ nhận thức (chủ yếu là nam giới nhưng cũng gồm cả nữ giới) như: phải loại bỏ cách nghĩ cũ về vai trò của phụ nữ, khuyến khích nam giới chia sẻ trách nhiệm gia đình, khuyến khích phụ nữ tăng tính tự chủ, mạnh dạn nắm bắt các cơ hội,... Nói rõ hơn về điều này, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hoàng Thị Ái Nhiên cho rằng: “Giải phóng phụ nữ khỏi nhiệm vụ triền miên là chăm sóc cho gia đình không có nghĩa là khuyến khích họ từ bỏ vai trò chăm sóc mà khuyến khích nam giới cùng chia sẻ. Đồng thời, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ phụ nữ thực hiện trách nhiệm này để đi đến bình đẳng thực chất”. Để đạt tiến bộ bình đẳng giới, trong tầm nhìn trung và dài hạn, các hoạt động xã hội thực tiễn cần có sự đa dạng như: thông qua các phương tiện truyền thông để giáo dục công chúng, đặc biệt là giáo dục thế hệ trẻ; lập và thực thi các chương trình nhằm nâng cao quyền lợi của phụ nữ; cải thiện dịch vụ xã hội để giảm gánh nặng việc nhà cho phụ nữ; tăng thêm tính khả thi của chính sách, pháp luật liên quan việc thúc đẩy sự tiếp cận của phụ nữ với các cơ hội phát triển học vấn, sự nghiệp. Bên cạnh đó, để đạt các mục tiêu phát triển bền vững về giới cũng như các mục tiêu phát triển bền vững nói chung, cần tiếp tục nghiên cứu để cung cấp cơ sở khoa học, để định hướng thay đổi nhận thức, hành vi thực hiện bình đẳng giới, thúc đẩy thực hiện có hiệu quả các chủ trương, chính sách, pháp luật... để bình đẳng giới ở Việt Nam trở nên thực chất và có tính bền vững.

THIÊN PHƯƠNG

Chia sẻ