Phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long

Thứ Ba, 07/05/2019, 02:23:58

Sau hơn một năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 120/NQ-CP của Chính phủ về Phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thích ứng với biến đổi khí hậu, đến nay ĐBSCL đã đạt được một số thành tựu.

Năm 2018, ĐBSCL tiếp tục đứng đầu cả nước về sản lượng lúa, tôm, cá tra và trái cây, tạo kim ngạch xuất khẩu khoảng 8,43 tỷ USD, chiếm 20% kim ngạch xuất khẩu nông sản cả nước.

Từng bước hình thành nhiều vùng chuyên canh các nông sản chủ lực, cơ cấu sản xuất chuyển dịch tích cực theo định hướng thị trường, thích ứng tốt hơn với biến đổi khí hậu, bảo đảm chất lượng và năng lực cạnh tranh. Cơ cấu sản xuất chuyển dịch theo hướng tăng thủy sản, tăng trái cây, tăng chăn nuôi, giảm diện tích trồng lúa...

Theo đánh giá của các chuyên gia, có được kết quả nêu trên là nhờ sự vào cuộc đồng bộ của các bộ, ngành liên quan và các tỉnh, thành phố ĐBSCL. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cũng phải đối mặt với một số khó khăn: Tác động của biến đổi khí hậu khiến cấu trúc mùa vụ, năng suất thay đổi, dịch bệnh gia tăng. Những điểm bất hợp lý trong sự phát triển kinh tế nội tại vùng đồng bằng như: thâm canh lúa ba vụ, suy giảm tài nguyên rừng, khai thác tài nguyên cát, sỏi, nguồn nước ngầm, xây dựng hạ tầng, nhà ở ven sông cùng với các hoạt động kinh tế khác cũng gây tổn thương lớn đến vùng châu thổ và sự phát triển bền vững. Bên cạnh đó, chính sách, chiến lược, quy hoạch chưa theo kịp sự phát triển nhanh của thị trường; công nghiệp, dịch vụ, giao thông chưa hỗ trợ hiệu quả cho nông nghiệp.

Liên kết vùng còn hạn chế, việc khuyến khích đầu tư tư nhân chưa hiệu quả. Năng lực cán bộ địa phương, nông dân còn yếu; khả năng nghiên cứu và ứng dụng khoa học - công nghệ vào thực tế còn ít. Công tác phát triển thị trường, xúc tiến thương mại chưa tốt. Các mô hình sản xuất bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu còn tự phát, nhỏ lẻ, manh mún, chưa có cơ sở về kỹ thuật và thị trường cũng như động lực và sự hỗ trợ đủ mạnh để nhân rộng. Chương trình xây dựng nông thôn mới chậm hơn so với mặt bằng chung cả nước, chất lượng đạt chuẩn chưa bền vững. Tỷ lệ hộ nghèo cao, chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng còn lớn. Việc làm phi nông nghiệp thiếu bền vững...

Để khắc phục những bất cập nêu trên, chúng ta cần tiếp tục triển khai một số giải pháp hữu hiệu như: Rà soát, điều chỉnh các quy hoạch vùng và tỉnh ĐBSCL theo hướng tích hợp đa ngành, gắn kết với quy hoạch tổng thể về phát triển công nghiệp, dịch vụ, giao thông, điện, nước, đô thị, dân cư. Nâng cao khả năng liên kết vùng; huy động nguồn lực tổng hợp đầu tư cho phát triển nông nghiệp bền vững thích ứng biến đổi khí hậu; đổi mới tổ chức sản xuất và phát triển chuỗi giá trị. Xây dựng các chương trình: thúc đẩy tích tụ ruộng đất, thu hút đầu tư phát triển chuỗi; các đề án ứng phó với lũ cực đoan, hấp thu lũ, thoát lũ; xử lý ô nhiễm nước mặt, tái tạo nguồn nước ngầm, cấp nước ngọt; bảo vệ và phát triển rừng. Tăng cường ứng dụng khoa học - công nghệ, nâng cao năng lực quản lý tài nguyên và môi trường. Thí điểm và nhân rộng các mô hình thích ứng thông minh với khí hậu.

Xây dựng đề án nông thôn mới cho ĐBSCL cùng tiêu chí đặc thù với các mô hình nông thôn mới kiểu mẫu cấp xã, huyện. Nếu làm tốt sẽ là nền tảng để trong tương lai ĐBSCL phát triển bền vững, an toàn, thịnh vượng, trên cơ sở phát triển phù hợp nông nghiệp hàng hóa chất lượng cao, kết hợp với dịch vụ, du lịch sinh thái, công nghiệp, trọng tâm là công nghiệp chế biến, nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp. Hệ thống cơ sở hạ tầng được quy hoạch, phát triển đồng bộ, hiện đại theo hướng chủ động, thông minh, thích ứng biến đổi khí hậu, bảo đảm an toàn trước thiên tai.

Anh Quang