Tóm tắt tiểu sử Ðại lão Hòa thượng Thích Từ Nhơn

Thứ Sáu, 26/04/2013, 19:45:00
 Font Size:     |        Print
1. Thân thế Hòa thượng Thích Từ Nhơn, thế danh Nguyễn Văn Sáu, sinh năm Bính Dần (1926) tại Sa Ðéc, nay là tỉnh Ðồng Tháp. Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Diệu, pháp danh Thiện Ðạo húy Hồng Diệu. Thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Tuất, pháp danh Diệu Minh.

2. Sự nghiệp

Vốn sinh ra trong gia đình thượng lưu trí thức, Phật tử thuần thành, nhiều đời tin kính Tam bảo, cho nên khi còn nhỏ, Hòa thượng đã có cơ duyên ở trong chùa đi học. Ngài được thân sinh là Hòa thượng Hồng Diệu hiệu Thiện Ðạo Trụ trì Phước Thạnh Cổ Tự đưa về Tổ đình Phi Lai xuất gia với Sư bá Hồng Pháp hiệu Thiện Minh (chú ruột), Trưởng tử Tổ Phi Lai, được Hòa thượng ban pháp húy Nhựt Sáu, hiệu Từ Nhơn, nối pháp dòng Lâm Tế Gia Phổ đời thứ 41.

Năm 1936, Hòa thượng được Bổn sư cho thọ giới Sa di tại Giới đàn chùa Vĩnh Hòa, xã Vĩnh Lợi, huyện Thạnh Hòa, tỉnh Bạc Liêu do Hòa thượng Huệ Viên tổ chức và cung thỉnh Tổ Vạn An (Hòa thượng Thích Chánh Thành) đương vi Chứng minh, Hòa thượng Bửu Chung chùa Phước Long đương vi Pháp sư, Hòa thượng Chánh Quả chùa Kim Huê đương vi Bồ tát.

Từ năm 1944 - 1946, Hòa thượng theo học lớp Phật học tại chùa Long An, Sa Ðéc, do Quý Hòa thượng Thích Khánh Phước, Thới An, Hành Trụ, Thiện Tường... chủ giảng.

Năm 1945, để viên mãn Tam đàn giới pháp, Hòa thượng đã đăng đàn thọ Ðại giới Tỳ Kheo Bồ tát tại Tổ đình Vạn An, rạch Cái Xếp, nay thuộc xã An Nhơn, huyện Châu Thành, tỉnh Ðồng Tháp, do đại lão Hòa thượng Luật sư Thích Chánh Quả, Trụ trì Kim Huê Cổ Tự làm Ðàn đầu Hòa thượng.

Sau khi trở thành Pháp khí trong ngôi Tam bảo, để mở mang kiến thức Phật học, Hòa thượng đã tiếp tục theo học Kinh luật luận với các Trưởng lão Hòa thượng tại Trường Gia giáo Phi Lai - Châu Ðốc, Tổ đình Thiên Thai - Bà Rịa, Lưỡng Xuyên Phật học - Trà Vinh, Tổ đình Vạn An, Tổ đình Kim Huê, Long An Cổ Tự - Sa Ðéc...

Năm 1951, Giáo hội Tăng già Nam Việt được thành lập tại chùa Hưng Long - Chợ Lớn, Văn phòng đặt tại chùa Ấn Quang, do Hòa thượng Ðạt Từ làm Trị sự trưởng. Năm 1952, Hòa thượng được Giáo hội cử làm Trị sự trưởng Giáo hội Tăng già Nam Việt tỉnh Sa Ðéc kiêm giảng sư Tỉnh hội trong nhiều nhiệm kỳ. Năm 1953, Hòa thượng được Bổn sư giao trọng trách Trụ trì Phước Thạnh Cổ Tự.

Từ năm 1953 - 1963, Hòa thượng đảm nhiệm chức Trị sự Trưởng Giáo hội Tăng già Nam Việt tỉnh Sa Ðéc, kiêm Cố vấn Giáo lý - Trưởng ban Hoằng pháp tỉnh Sa Ðéc. Là một vị Pháp sư danh tiếng, Hòa thượng đi hoằng pháp khắp nơi trong tỉnh và các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Năm 1961, Hòa thượng khởi công xây dựng tượng đài Quan Âm lộ thiên và trang nghiêm hậu Phật điện Phước Thạnh Cổ Tự. Ðến năm 1970, Ngài trùng tu ngôi Chánh điện bằng vật liệu kiên cố.

Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất được thành lập ngày 4-1-1964, Hòa thượng là Trưởng đoàn Giáo hội Tăng già Nam Việt tỉnh Sa Ðéc tham dự Ðại hội thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Ngài được suy cử chức Ủy viên Tài chánh Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất kiêm Phó tổng vụ Tăng sự liên khóa cho đến năm 1975. Cùng năm, Ngài được giao chức Tổng Thủ bổn Viện Hóa Ðạo và lưu trú tại chùa Ấn Quang cho đến năm 1993. Năm 1965, Hòa thượng lại được Viện Hóa Ðạo bổ nhiệm làm Trụ trì Việt Nam Quốc Tự, số 16 đường Trần Quốc Toản, nay là số 244 đường 3 tháng 2, quận 10, TP Hồ Chí Minh.

Sau ngày 30-4-1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, Bắc Nam sum họp một nhà, các Tổ chức Giáo hội, Hệ phái Phật giáo họp nhất tại chùa Quán Sứ, Thủ đô Hà Nội, thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày 7-11-1981, Hòa thượng được mời làm Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Tăng sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho đến ngày về cõi Phật. Năm 1990, Hòa thượng được Ban Quản trị Tổ đình suy cử làm Tổng lý Hội đồng Quản trị cho đến ngày viên tịch. Trong quá trình thành lập Thành hội Phật giáo TP Hồ Chí Minh, tháng 6-1982, tại Ðại hội lần thứ nhất, Hòa thượng được cử làm Phó Ban Trị sự kiêm Trưởng ban Tăng sự Thành hội Phật giáo trong nhiều nhiệm kỳ từ năm 1982 - 1997. Năm 1992, tại Ðại hội kỳ III Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hòa thượng đã được Ðại hội suy cử làm Ủy viên Hội đồng Trị sự. Tại Ðại hội kỳ IV (1997), Hòa thượng được suy tôn làm thành viên Hội đồng Chứng minh, suy cử làm Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tăng sự Trung ương GHPGVN.

Tại Ðại hội kỳ V, VI và VII, Hòa thượng đã được Ðại hội suy cử làm Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Trị sự cho đến ngày xả bỏ báo thân.

Tại Ðại hội MTTQ Việt Nam lần thứ VII, Hòa thượng được Ðại hội suy cử làm Ủy viên Ủy ban T.Ư MTTQ Việt Nam, nhiệm kỳ 2009 - 2014.

Với những công đức đóng góp cho Ðạo pháp và Dân tộc, Hòa thượng đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Ðộc lập hạng nhất; Huân chương Ðộc lập hạng nhì; Huân chương Ðại đoàn kết dân tộc và nhiều phần thưởng cao quý khác; và Giáo hội Phật giáo Việt Nam tặng Bằng tuyên dương công đức.


Theo:

Chia sẻ

TIN BÀI CÙNG CHUYÊN MỤC