Tìm hiểu hiến pháp sửa đổi
Hiến định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Hiến pháp sửa đổi
Thứ sáu, 20/12/2013 - 01:35 AM (GMT+7)
[+] Cỡ chữ: Mặc định

Kế thừa Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp sửa đổi (HPSĐ) tiếp tục khẳng định, Đảng Cộng sản Việt Nam là "lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội".

Điều 4 của HPSĐ là sự Hiến định về vai trò lãnh đạo và vị trí cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều 4 của HPSĐ có những sự đổi mới, bổ sung quan trọng cả về nội dung và hình thức trình bày so với Hiến pháp năm 1992. Điều 4 của Hiến pháp - đạo luật gốc, văn kiện chính trị - pháp lý quan trọng nhất của Nhà nước ta, sẽ là chỗ dựa pháp lý cho sự tồn tại, hoạt động, lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, là cơ sở pháp lý để đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch muốn phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, muốn chuyển hóa chế độ chính trị của nước ta, từng bước lái Việt Nam đi theo chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

1. Bản chất của Đảng Cộng sản Việt Nam và vai trò lãnh đạo của Đảng

So với Hiến pháp năm 1992, Điều 4 HPSĐ đã thể hiện đầy đủ hơn bản chất của Đảng theo tinh thần Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011).

Hiến pháp khẳng định: "Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng". Bản chất cách mạng và khoa học đó của Đảng là cơ sở quy định vai trò lãnh đạo của Đảng.

Cách diễn đạt về bản chất của Đảng trong Cương lĩnh 2011 và HPSĐ là đúng đắn, phù hợp. Nó vừa thể hiện được bản chất giai cấp công nhân của Đảng theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vừa thể hiện được nét đặc thù của Đảng ta theo sự phát triển sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với thực tế Việt Nam và đáp ứng được tình cảm, nguyện vọng của nhân dân.

Đảng ta là Đảng của giai cấp công nhân, mang bản chất giai cấp công nhân. Bản chất giai cấp công nhân của Đảng thể hiện ở chỗ: mục tiêu, lý tưởng của Đảng là chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản; nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng là tập trung dân chủ; Đảng liên hệ mật thiết với quần chúng; lấy tự phê bình và phê bình làm quy luật phát triển...

Tuy nhiên, Đảng ta ra đời trong một nước thuộc địa, nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu, giai cấp công nhân còn nhỏ bé. Đảng ta ra đời không chỉ là sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lê-nin với phong trào công nhân mà còn với phong trào yêu nước Việt Nam. Đây là nét đặc thù trong sự ra đời và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định, Đảng ta không chỉ là Đảng của giai cấp công nhân mà còn là Đảng của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc là thống nhất với nhau.

Người nói: "Đảng ta là Đảng của giai cấp, đồng thời cũng là của dân tộc, không thiên tư, thiên vị"; "Ngoài lợi ích của nhân dân, Đảng không có lợi ích nào khác" (1) . Người còn nói: "Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời cũng là đội tiên phong của dân tộc" (2) .

Như vậy việc xác định bản chất của Đảng như đã nêu ở trên là khoa học, nó thể hiện đúng mối quan hệ biện chứng giữa yếu tố giai cấp và yếu tố dân tộc trong quan niệm về bản chất của Đảng, tránh rơi vào hai quan điểm cực đoan là quan điểm xét lại về "Đảng toàn dân" hoặc quan điểm giai cấp theo nghĩa hẹp hòi, biệt phái, tách rời với nhân dân, với dân tộc.

2. Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, tồn tại, hoạt động vì lợi ích của giai cấp công nhân và dân tộc, Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Toàn Đảng và cán bộ, đảng viên đã phấn đấu vì lợi ích của nhân dân, biết bao nhiêu cán bộ, đảng viên đã anh dũng hy sinh trong lao tù đế quốc, trên chiến trường chống ngoại xâm. Đảng viên đã trở thành tấm gương sáng để nhân dân noi theo, phấn đấu. Nhân dân đã tin Đảng, đi theo Đảng, thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng, thừa nhận Đảng là của chính mình.

Đường lối, chủ trương của Đảng, đã đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Thực tiễn gần 84 năm qua đã khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành lực lượng lãnh đạo cách mạng, đất nước, dân tộc và từ khi giành được chính quyền sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trở thành lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội một cách hợp tự nhiên, được nhân dân thừa nhận, lịch sử chấp nhận và giao phó sứ mệnh mà không một lực lượng nào có thể thay thế được. Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội là chính đáng, hợp lòng dân, hợp pháp.

Ngày nay trên thế giới, Hiến pháp của nhiều nước đều quy định về đảng chính trị. "Đảng cầm quyền" đã trở thành một khái niệm chính trị - pháp lý quốc tế. Đảng cầm quyền có thể là một đảng hoặc liên minh nhiều đảng nhưng có một đảng chi phối tùy thuộc vào tương quan lực lượng giữa các đảng, vào kết quả bầu cử, vào điều kiện lịch sử cụ thể của mỗi nước. Thiết lập chế độ đa đảng hay một đảng là do điều kiện cụ thể mỗi nước, mỗi giai đoạn lịch sử quy định. Vấn đề là ở chỗ bản chất của đảng cầm quyền đó như thế nào, nó phục vụ cho ai, cho giai cấp, tầng lớp xã hội nào, cho nhân dân hay chỉ cho một thiểu số giai cấp bóc lột.

Ở nước ta, chế độ một đảng lãnh đạo, cầm quyền là Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thực tiễn lịch sử quy định, nhân dân lựa chọn. Đảng Cộng sản Việt Nam với công lao to lớn với cách mạng, Tổ quốc và nhân dân, với lịch sử chiến đấu hy sinh cho dân tộc, bằng "pho lịch sử bằng vàng" (lời Hồ Chí Minh) của mình đã tự khẳng định một cách xứng đáng là người lãnh đạo dân tộc, được nhân dân suy tôn. Ở Việt Nam không có cơ sở khách quan để hình thành chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; không một lực lượng nào, đảng phái nào ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có thể lãnh đạo dân tộc trên con đường đổi mới và phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên trong quá trình lãnh đạo, có thời kỳ Đảng cũng phạm sai lầm, khuyết điểm do giáo điều, chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan.

Đảng đã nghiêm túc tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, tự chỉnh đốn, để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, tiếp tục lãnh đạo để đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên.

Hiện nay một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức lối sống, đã làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng và niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Nghị quyết T.Ư 4 khóa XI về "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" đã thẳng thắn chỉ ra tình trạng trên đây và đề ra một hệ thống các giải pháp cấp bách để tiếp tục đổi mới, xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Thực hiện Nghị quyết T.Ư 4, toàn Đảng đã và đang triển khai việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình nghiêm túc từ Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đến các tổ chức đảng ở các cơ quan trung ương cũng như các cấp ủy địa phương và cơ sở.

Việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình đã tạo sự chuyển biến bước đầu có tác dụng cảnh báo, răn đe và phòng ngừa các hành vi tham nhũng, tiêu cực, góp phần ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng.

Như vậy, mỗi khi phạm sai lầm, khuyết điểm, Đảng kiên quyết sửa chữa, thể hiện trách nhiệm cao của mình trước nhân dân, dân tộc. Vì vậy không thể vin vào những khuyết điểm hoặc hạn chế, yếu kém hiện nay trong Đảng để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Cũng không thể đồng nhất toàn bộ Đảng Cộng sản với một số cán bộ, đảng viên tham nhũng, thoái hóa, biến chất, quy chụp mọi khuyết điểm, sai lầm, tiêu cực trong xã hội về cho Đảng Cộng sản Việt Nam. Làm như vậy là chỉ thấy cây mà không thấy rừng, không thấy được bản chất cũng như công lao to lớn của Đảng đối với dân tộc. Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là phủ nhận lịch sử, phủ nhận lòng tin của nhân dân với Đảng. Ngày nay các tầng lớp nhân dân vẫn tin tưởng ở Đảng, ủng hộ đường lối của Đảng. Vai trò lãnh đạo của Đảng đã được Hiến định trong Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 và tiếp tục trong HPSĐ.

Trong Điều 4 của HPSĐ, mặc dù không dùng thuật ngữ "đảng cầm quyền", song khi khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là "lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội" thì đó cũng có nghĩa Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền.

Là đảng cầm quyền, Đảng phải thường xuyên chống nguy cơ sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu, mất dân chủ, tham nhũng, sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên.

3. Trách nhiệm của Đảng đối với nhân dân

Khác với Hiến pháp 1992, trong HPSĐ đã bổ sung một nội dung mới rất quan trọng ở khoản 2 Điều 4. Đó là "Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình".

Đó vừa thể hiện bản chất của Đảng Cộng sản chân chính, vừa là điều kiện cho sự lãnh đạo của Đảng, vừa thể hiện trách nhiệm của Đảng trước nhân dân cũng như trách nhiệm của nhân dân đối với Đảng và xây dựng Đảng.

Đảng muốn lãnh đạo được nhân dân thì Đảng phải gắn bó mật thiết với nhân dân. Quan hệ mật thiết, gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân là cái bảo đảm cho sự tồn tại vững chắc của Đảng cũng như của chế độ xã hội chủ nghĩa.

Cương lĩnh (bổ sung, phát triển) năm 2011 đã khẳng định: quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng.

Để gắn bó mật thiết với nhân dân, Đảng phải thật sự vì dân, lấy việc phục vụ nhân dân làm mục đích cao nhất của mình. Nhân dân là đối tượng lãnh đạo của Đảng, đồng thời là chỗ dựa của Đảng, là nguồn sức mạnh của Đảng, phục vụ nhân dân là lý do tồn tại của Đảng. Mọi chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải hợp lòng dân, xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của nhân dân, ý Đảng phải gắn với lòng dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh", "Muốn được dân yêu, muốn được lòng dân, trước hết phải yêu dân, phải đặt quyền lợi của dân trên hết thảy".

Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Đảng phải chịu trách nhiệm trước nhân dân không chỉ về những quyết định của mình mà còn về toàn bộ sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, cán bộ, đảng viên phải nâng cao tinh thần dám chịu trách nhiệm của mình trước nhân dân, ý thức tự phê bình trước nhân dân. Thành công hay thất bại, ưu điểm hay khuyết điểm đều có công lao đóng góp hoặc trách nhiệm của Đảng. Cần xây dựng chế độ trách nhiệm trong công tác lãnh đạo, quản lý nhất là của người đứng đầu, tránh tình trạng thành tích thì nhận về mình, còn khuyết điểm thì đổ cho người khác hoặc cho tập thể.

Để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, Đảng phải chịu sự giám sát của nhân dân, nhất là trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền.

Phải tạo ra những cơ chế dân chủ, công khai, minh bạch để nhân dân giám sát cán bộ, đảng viên trong việc thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những quy định của Điều lệ Đảng và quy định của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm. Đảng là con đẻ của nhân dân nên nhân dân có trách nhiệm xây dựng Đảng của mình trong sạch, vững mạnh, do đó, cần có những hình thức, tạo điều kiện để nhân dân góp ý xây dựng Đảng. "Dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng" phải trở thành một nguyên tắc xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trong điều kiện Đảng cầm quyền.

4. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật

Nếu trong Hiến pháp 1992 chỉ khẳng định "mọi tổ chức của Đảng..." thì HPSĐ đã bổ sung đầy đủ hơn là các tổ chức của Đảng và đảng viênĐảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, pháp luật là tối thượng nên không chỉ tổ chức của Đảng mà mọi đảng viên đều phải có trách nhiệm nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật. Hiến pháp và pháp luật là sự thể chế hóa Cương lĩnh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, là cơ sở pháp lý cho sự vận hành của xã hội trong kỷ cương, trật tự. Cần nâng cao nhận thức về pháp luật và ý thức tự giác thi hành pháp luật của mọi cán bộ, đảng viên, đảng viên phải gương mẫu trong việc chấp hành pháp luật, kiên quyết chống lại những hành vi vi phạm Hiến pháp và pháp luật, vi phạm quyền và nghĩa vụ công dân, vi phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội...

Việc quy định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong Hiến pháp và pháp luật là cực kỳ quan trọng. Tuy nhiên để xứng đáng với trọng trách là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội, điều quan trọng hơn là Đảng phải đẩy mạnh tự đổi mới, tự chỉnh đốn, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, thể hiện Đảng "là đạo đức, là văn minh", thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Di chúc: "Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân".

GS, TS LÊ HỮU NGHĨA Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương (1) Hồ Chí Minh. Toàn tập, Nxb CTQG, H 2009, t.10, tr.467, 462 (2) Hồ Chí Minh. Toàn tập, Nxb CTQG, H 2009, t.8, tr.295.