Thứ hai, ngày 21 tháng 5 năm 2012 
+ Chữ to   - Chữ nhỏ     Bản in  
  In ra PDF


Liên kết tiêu thụ nông sản và cung ứng vật tư -hướng phát triển nông nghiệp bền vững
Cập nhật lúc 02:44, Thứ bảy, 04/02/2012 (GMT+7)

Nông dân cơ giới hóa sản xuất, thu hoạch lúa bằng máy gặt đập liên hợp.  
 
Việt Nam là quốc gia có thế mạnh về xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp. Trong đó, hai mặt hàng lúa gạo và cá tra đã được Chính phủ xem là các mặt hàng xuất khẩu chiến lược quốc gia.

Thế nhưng, bài toán trúng mùa mất giá của cây lúa, cạnh tranh không lành mạnh, giá cả trồi sụt bất thường của con cá tra, mối tương quan thiếu chặt chẽ, đồng bộ, hài hòa lợi ích trong mối liên kết giữa doanh nghiệp - người nông dân chưa hợp lý... diễn ra thời gian qua đã và đang khiến hai mặt hàng này luôn chịu cảnh bấp bênh. Việc An Giang tìm ra mô hình thí điểm về tiêu thụ nông sản và cung ứng vật tư nông nghiệp cho hai sản phẩm lúa và cá tra hé mở đáp án cho hướng phát triển nông nghiệp bền vững.

Hài hòa lợi ích

Trong nhiều năm qua, mặc dù được xác định là mặt hàng chiến lược quốc gia, thế nhưng cây lúa, cá tra Việt Nam luôn gặp không ít khó khăn với nhiều vấn đề chưa giải quyết một cách triệt để như: Giá cả bấp bênh, nguồn cung đầu vào kiểm soát chưa chặt chẽ, đầu ra tiêu thụ thiếu ổn định, cạnh tranh không lành mạnh về giá, chất lượng sản phẩm giữa doanh nghiệp với nhau và giữa doanh nghiệp với người canh tác... Ðiều này thể hiện sự bất cập trong công tác quản lý Nhà nước và thiếu một chiến lược dài hạn để phát triển bền vững trong mối tương quan lợi ích của doanh nghiệp với người sản xuất và rộng hơn là sự cạnh tranh các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Cả hai mặt hàng cá tra xuất khẩu và hạt gạo Việt Nam thời gian qua đã giúp cho bà con khu vực đồng bằng sông Cửu Long (ÐBSCL) nói riêng và ngành nông nghiệp Việt Nam nói chung khẳng định thế mạnh rất lớn trong lợi thế cạnh tranh xuất khẩu nông sản trong khu vực và quốc tế. Cả hai mặt hàng này đều mang về hàng tỷ USD kim ngạch xuất khẩu. Trong đó, cá tra đứng vị thế số một thế giới và hạt gạo Việt Nam luôn trong tốp ba nước xuất khẩu đứng đầu thế giới hơn chục năm qua. Vậy nhưng, nếu xét trên bình diện rộng thì số tiền thu được từ kim ngạch xuất khẩu chưa thật sự tương xứng với giá trị thực của hai sản phẩm trên.

Từ những nhận định có tính chiến lược của các chuyên gia và khi đề án Phát triển thương mại nông thôn giai đoạn 2011-2015, định hướng 2020 của Chính phủ ra đời, An Giang đã mạnh dạn tiến hành xây dựng hai mô hình liên kết hài hòa lợi ích trong tiêu thụ nông sản, cung ứng vật tư nông nghiệp cho hai sản phẩm lúa và cá tra từ cuối năm 2010 đầu năm 2011.

Với cây lúa, mô hình "cánh đồng mẫu lớn" triển khai ở An Giang từ vụ đông xuân 2010-2011 đến nay đã mang lại những tác động hiệu quả cả về mặt kinh tế lẫn xã hội, cho thấy những thành công bước đầu trong việc xây dựng mối liên kết làm ăn bền vững giữa nhà doanh nghiệp và người nông dân theo một mô hình khép kín. Ông Lê Minh Phương, Phó Giám đốc ngành lương thực, Công ty cổ phần Bảo vệ thực vật An Giang, đơn vị được chọn thí điểm triển khai mô hình cho biết: "Khi nông dân tham gia vào mô hình nông dân sẽ được cung cấp giống, phân, thuốc bảo vệ thực vật... không lãi suất trong 120 ngày, hỗ trợ kỹ thuật canh tác, chi phí gặt lúa, vận chuyển, sấy khô, được quyền lưu kho chờ giá 30 ngày... là những điểm mới mà người nông dân thời gian qua chưa hề tiếp cận, vừa giúp nông dân thuận lợi sản xuất, vừa hạ giá thành sản xuất, giá bán lại cao hơn nếu làm ăn theo cách truyền thống. Ðây chính là cái mới và điển hình của cách làm ăn bình đẳng, bảo đảm cho nông dân có lãi cao nhất từ hạt lúa của mô hình cánh đồng mẫu lớn mà chúng tôi đang xây dựng". Thực tế, qua ba vụ triển khai, với kiểm định độc lập từ các viện, trường và sở ngành liên quan cho thấy, mức thu nhập của bà con nông dân tham gia mô hình khá cao, từ 22,4 triệu đồng đến 33,2 triệu đồng/ha so với từng vụ đông xuân, hè thu và thu đông. Song song đó, doanh nghiệp cũng bảo đảm lợi ích khi thu mua được nguồn gạo chất lượng cao, có truy suất nguồn gốc, giá trị thương phẩm tốt, sức cạnh tranh cao...

Trong khi đó, với mặt hàng cá tra xuất khẩu, "Liên kết chuỗi giá trị trong sản xuất cá tra" lần đầu được tiến hành đồng bộ với 24 thành viên, tổng diện tích nuôi tham gia hơn 28 ha tại An Giang và Cần Thơ, do Công ty TNHH sản xuất thương mại- dịch vụ Thuận An tiến hành thí điểm. Mô hình liên kết với chuỗi giá trị: Doanh nghiệp cung ứng thuốc, hóa chất - Doanh nghiệp sản xuất, cung ứng thức ăn chăn nuôi - cơ sở ương, nuôi giống - cơ sở nuôi cá - doanh nghiệp chế biến xuất khẩu - nhà nhập khẩu. Ðây được xem là mô hình chuỗi liên kết khá chặt chẽ, bảo đảm truy suất nguồn gốc, hạ giá thành sản xuất và nhất là giải quyết bài toán ép giá, tranh mua, tranh bán cá tra thời gian qua. Bà Nguyễn Thị Huệ Trinh, Giám đốc Công ty Thuận An, đơn vị đảm trách vai trò nòng cốt trong chuỗi nói: Chúng tôi tiến hành liên kết với hình thức: Bốn tháng đầu vụ, hộ nuôi mua thuốc, thức ăn bằng tiền mặt. Hai tháng cuối trong quy trình nuôi, chuỗi hỗ trợ đầu tư với tài sản thế chấp là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nuôi trồng thủy sản để chuỗi tập hợp, gửi ngân hàng bảo lãnh vay. Sau khi thu hoạch, chuỗi liên kết sẽ thu mua bằng giá thị trường cộng thêm 200đồng/kg cá.

Vẫn còn bất cập

Tiến sĩ Mai Thị Ánh Tuyết, đại biểu Quốc hội, Giám đốc Sở Công thương An Giang cho rằng, thực tế việc liên kết với hợp đồng liên kết dẫu có ký nhưng ý thức tự nguyện thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi theo hợp đồng đã được ký kết của cả hai phía nông dân và doanh nghiệp vẫn chưa cao, đơn cử là việc phá vỡ hợp đồng vẫn liên tục xảy ra. Doanh nghiệp đứng ra chủ trì các chuỗi liên kết chưa thật sự là những tập đoàn mạnh về tiềm lực trên nhiều phương diện, nên chưa thể một mình bảo đảm cung ứng đầy đủ các mặt hàng vật tư hay ứng vốn sản xuất cho nông dân để phát triển, đầu tư mở rộng vùng nguyên liệu. Vì vậy, mô hình liên kết vẫn còn đâu đó mang tính chất mô hình hợp tác sản xuất và chia sẻ chi phí đầu tư trong bối cảnh khó khăn nguồn vốn từ hai phía, nhất là chính sách thắt chặt tín dụng như hiện nay.

Cùng với việc cạnh tranh không lành mạnh trong xuất khẩu chưa được giải quyết triệt để thời gian qua, Nhà nước thiếu các chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu ra đối với các sản phẩm nông nghiệp (trong đó có hạt gạo và cá tra) được thực hiện theo mô hình liên kết và không theo mô hình liên kết, khiến các doanh nghiệp chưa thật mặn mà đầu tư mạnh vào các mô hình liên kết. Mặt khác, nhiều điểm thỏa thuận giữa các thành viên trong chuỗi liên kết, trong các hợp đồng còn thiếu cơ sở, tính pháp lý, sự ràng buộc về mặt pháp luật, chế tài xử phạt... khiến các chuỗi liên kết thực chất vẫn trên mô hình điểm, việc nhân rộng hết sức khó khăn.

Trong khi đó, theo thạc sĩ Võ Duy Thanh, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển nông thôn, Trường đại học An Giang, đơn vị đánh giá độc lập về hai mô hình liên kết nhìn nhận: Nhiều nông dân vẫn còn tâm lý quan tâm nhiều đến yếu tố chênh lệch giá thu mua của công ty mà ít quan tâm đến các lợi ích khác của mô hình liên kết. Chính điều này sẽ là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển và nhân rộng mô hình liên kết trong thời gian tới.

Cần nhiều giải pháp

Việc phát triển mô hình liên kết theo chiều sâu và nhân rộng theo chiều dọc đã được các cấp, bộ ngành đặc biệt quan tâm. Thế nhưng, vấn đề là các giải pháp nào thật sự hiệu quả để giải quyết tốt nhất các vướng mắc vừa nêu? Trước tiên, cơ chế của Nhà nước trong định hướng liên kết chính là đòn bẩy mạnh mẽ nhất. Theo đó, nếu Nhà nước tăng mức đầu tư cho cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh phục vụ sản xuất nông nghiệp thì việc đẩy mạnh các cánh đồng mẫu lớn hay nuôi cá tra theo các chuẩn VietGAP, GobalGAP, HACCP... rất thuận lợi. Thường trực HÐND tỉnh An Giang Nguyễn Thanh Bình cho rằng, muốn xây dựng nông thôn phồn thịnh thì trước tiên, nông dân phải biết cách làm giàu, trong đó quan trọng là có trình độ sản xuất cao, am hiểu thị trường. Do đó, Nhà nước cần tăng cường đào tạo kỹ năng sản xuất và tạo điều kiện thuận lợi cho người nông dân giỏi có thể tích lũy về nhiều mặt, nhằm phát triển sản xuất hàng hóa lớn.

Song song đó, việc phát triển các nhà máy cả chế biến xuất khẩu lương thực lẫn cá tra xuất khẩu đang như nấm sau mưa, không đồng bộ về vùng nguyên liệu, về khu vực sản xuất, về công suất thiết kế... đã dẫn đến tình trạng tranh bán, tranh mua, đẩy giá trồi sụt thất thường, làm giảm sức cạnh tranh các mặt hàng chiến lược trên thị trường quốc tế. Bên cạnh đó, việc phát triển các tổ, nhóm liên kết sản xuất nhằm chuyển giao khoa học - kỹ thuật, biện pháp canh tác hiện đại cũng cần tính đến. Vai trò liên minh hợp tác xã hiện vẫn còn mờ nhạt, nếu thể hiện đúng vai trò là chất kết dính, việc đẩy mạnh liên kết sản xuất, cung ứng vật tư, bao tiêu sản phẩm nông nghiệp... sẽ được thực hiện đạt hiệu quả cao hơn.

Vấn đề cuối cùng rất cần quan tâm trong việc phát triển, nhân rộng các mô hình liên kết nông sản chính là việc Chính phủ, các bộ, ngành liên quan nhanh chóng hoàn thành các chính sách ưu đãi, thu hút đầu tư, thuế, tín dụng, quy hoạch đầu tư hạ tầng sản xuất nông nghiệp, quy hoạch vùng sản xuất tập trung theo hướng sản xuất hàng hóa, vùng miền, đặc thù thổ nhưỡng, lợi thế cạnh tranh... Có như thế, những mô hình liên kết trong nông nghiệp, đơn cử là cây lúa với "Cánh đồng mẫu lớn" và con cá tra xuất khẩu với "Chuỗi liên kết sản xuất cá tra" mới vươn khỏi "mô hình thí điểm" như hiện nay!

BẢO TRỊ
         
 
NGƯỜI VIỆT DÙNG HÀNG VIỆT
 
THƯƠNG HIỆU
 
THẾ GIỚI
 
THỊ TRƯỜNG
 
CHỨNG KHOÁN
 
CHUYỆN LÀM ĂN
 
NHẬN ĐỊNH