Không chỉ là việc chống gian dối

Thứ Sáu, 14/07/2017, 20:34:33
 Font Size:     |        Print

TS PHẠM THỊ LY

Trước dư luận xã hội về chất lượng của các tiến sĩ (TS) và việc đào tạo TS, Bộ GD-ĐT đã đáp ứng bằng Thông tư 08 quy định về quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ TS.

Nhằm hạn chế những tiêu cực, gian dối trong quá trình đào tạo, quy chế đã nêu ra những điểm nhằm tăng cường tính minh bạch: yêu cầu bảo vệ công khai, nộp luận án (cả bản cứng và mềm) cho thư viện và đăng công khai trên trang thông tin điện tử của cơ sở đào tạo.

Dù vậy, các quy định đó cũng khó mà tránh hết được. Thí dụ, tuy quy chế giao cho phản biện độc lập một vai trò quan trọng (luận án sẽ không được đưa ra bảo vệ nếu phản biện độc lập không đồng ý), nhưng tiêu chuẩn và quy trình lựa chọn phản biện độc lập cũng như lưu trữ tài liệu về phản biện độc lập (được xem là tài liệu mật) thì do thủ trưởng cơ sở đào tạo quy định, và cũng không yêu cầu là quy định này phải được nêu công khai. Điều này mở ra một cánh cửa để vô hiệu hóa quy định về phản biện độc lập nếu muốn.

Giới hàn lâm quốc tế nếu nhìn vào các quy định này hẳn sẽ rất ngạc nhiên, vì nó quá chi tiết, và nhất là vì nó dựa trên một giả định là các cơ sở đào tạo cũng như NCS và các bên tham gia vào quá trình đào tạo TS là những người có nhiều khả năng sẽ làm những việc gian dối để cấp bằng TS cho ai đó. Vì thế phải có các quy định nhằm ngăn chặn việc này. Điều này rất xa lạ với thực tiễn học thuật của phương Tây, vì hoạt động hàn lâm (thật sự) có thể tồn tại và phát triển được là dựa trên tính chính trực của toàn bộ quá trình. Một người có bằng TS nhưng không có năng lực tương xứng với tấm bằng đó sẽ không có đất sống ở phương Tây. Người ta có thể thành công ở nhiều lĩnh vực khác nhau, mà không hề cần tới bằng TS. Vì không có cầu (bằng cấp dỏm) nên cũng không có cung (gian dối để có bằng hoặc để cấp bằng).

Tạo sự gắn kết trong học thuật

TS TÔN QUANG CƯỜNG

Việc quy định thời gian, quy trình đào tạo hiện nay còn khá chung chung, chủ yếu mới chỉ đề cập đến quá trình “theo học tập trung” mà chưa thể hiện rõ sự gắn kết chặt chẽ trong các hoạt động khác giữa NCS và cơ sở đào tạo. Điều này dễ dẫn đến việc buông lỏng trách nhiệm tham gia vào các hoạt động học thuật, nghiên cứu, đào tạo và phục vụ cộng đồng của NCS đối với chính đơn vị, người hướng dẫn khoa học.

Tâm lý bị động trong việc lập kế hoạch nghiên cứu, tham gia các hoạt động học thuật, đào tạo của đơn vị là hiện tượng khá phổ biến của NCS hiện nay. Giả sử nếu NCS được ghi nhận một cách chính thức là “thành viên cộng đồng khoa học và đào tạo” của đơn vị, được giao quyền và nhiệm vụ rõ ràng trong suốt quá trình đào tạo, nghiên cứu (trợ lý nghiên cứu, trợ lý cho giáo sư, phó giáo sư, trợ lý giảng dạy…) thì chắc chắn sự gắn kết học thuật sẽ được cải thiện.

Trước mắt, để Thông tư sớm đi vào thực tiễn, cần có lộ trình và yêu cầu các đơn vị bổ sung thêm quy định chi tiết (cho phù hợp hơn với điều kiện từng cơ sở đào tạo): số lượng các sản phẩm khoa học trung gian, minh chứng về sự tham gia có hiệu quả vào các hoạt động khoa học, cụ thể hóa các yêu cầu đối với NCS trong thời gian đào tạo, v.v. Thực tiễn đào tạo TS của các nước cho thấy ngay từ khâu tuyển chọn đã có những tuyên bố rất rõ ràng nhằm thu hút và sàng lọc ứng viên. Trong suốt thời gian đào tạo họ phải liên tục thể hiện và chứng minh được năng lực tham gia chương trình đào tạo TS, thật sự có đam mê nghiên cứu, mong muốn đóng góp, phát triển học thuật.