Phục chế hiện vật, những điều trăn trở

Thứ Tư, 03/11/2010, 03:10:00
 Font Size:     |        Print

Việc phục chế thành công những chiếc mũ này cho thấy nỗ lực của Bảo tàng và các nghệ nhân trong việc làm sống lại những báu vật quốc gia, nhưng đằng sau những hiện vật lấp lánh vàng son ấy, lại là không ít bất cập, và ẩn chứa cả những nỗi niềm...

Những chiếc mũ 'may mắn'

Một ngày đầu năm 2008, tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, khi TS Phạm Quốc Quân, GÐ Bảo tàng, mở chiếc hộp chứa những chiếc mũ của vua - hay đúng hơn là những gì trước đó gọi là mũ của vua - ông Vũ Kim Lộc và tất cả cán bộ, nhân viên Bảo tàng có mặt đều thở dài, lắc đầu ngao ngán trước thảm trạng của các hiện vật. Hào quang long trọng ngày xưa nay chỉ còn là một mớ hỗn độn. Tất cả các hình, hoa văn trang trí bằng vàng và đá quý trên mũ đều đã rời rã, bị vo cuộn lại, chỉ còn là một 'búi' những chi tiết lẫn lộn trên 'xác' mũ đã mất hoàn toàn hình dáng.

Là nghệ nhân kim hoàn nhưng có duyên nợ với khảo cổ học từ lâu, ông Lộc được mời đến Bảo tàng Lịch sử để phục chế bốn chiếc mũ này. Dù đã có kinh nghiệm phục chế một chiếc mũ Chăm có niên đại từ thế kỷ thứ bảy nhưng ông Lộc cũng không khỏi băn khoăn trước công việc mới vì tài liệu ít ỏi, sơ sài, các hiện vật có đến hàng nghìn chi tiết được chế tác rất tinh xảo. Khó khăn về kỹ thuật cũng chẳng phải nhỏ: Nghiên cứu và tính toán để dựng lại cốt mũ, tìm vật liệu làm khung, tìm vải lót trong, bọc ngoài (phải là loại tơ tằm tương đối đặc biệt, có tính đàn hồi vì các mũ vua không hề khâu theo kiểu xếp ly), tìm phương pháp chế tác cốt mũ cho phù hợp... Căng thẳng nhất là thao tác hàn các hình trang trí bằng vàng bị gãy. Những hình này được quấn bằng các sợi vàng rất mỏng, chỉ một chút sơ suất khi hàn sẽ bị tan chảy, nhất là các đầu rồng. Chưa kể chân rồng một nơi, râu rồng một nẻo, ghép đi ghép lại hàng trăm lần mới thành hình...

Cuối cùng, sau hơn 11 tháng kiên trì, nhóm phục chế của ông Vũ Kim Lộc đã phục chế thành công những chiếc mũ. Ðó là những chiếc mũ có 'số phận' cực kỳ may mắn sau khi đã từng năm chìm bảy nổi. Sau hơn nửa thế kỷ lưu lạc và hỏng dần thêm trong các kho, một lần nữa những chứng tích vàng son này lại được hồi sinh dưới bàn tay của các nghệ nhân, để hiện diện trang trọng và lộng lẫy trở lại cho công chúng thưởng lãm.

Những nỗi niềm phía sau hiện vật

Phục chế là nghề khó, kén người. Nghề này đòi hỏi sự âm thầm, kiên nhẫn, cẩn trọng, tỉ mỉ, đòi hỏi sự rèn luyện, tích lũy lâu dài cả về kiến thức và kỹ năng của người làm nghề. Những kiến thức liên ngành, đặc biệt là những ngành khoa học tự nhiên: lý - sinh - hóa - môi trường... cần được đặt trên một phông nền vững chắc về lịch sử - văn hóa - nhân học. Bên cạnh đó còn đòi hỏi cao về kỹ năng thao tác của một nghệ nhân, một nghệ sĩ mỹ thuật. Những kiến thức khoa học còn phải được thể hiện bằng một năng khiếu thiên bẩm mới có thể đạt yêu cầu phục chế. Nhưng trước hết phải có một niềm say mê, một tấm lòng trân trọng những giá trị văn hóa thì người thực hiện mới có thể không kể thời gian và công sức, tỉ mỉ tạo lại từng nét xưa đã phôi pha.

Ở những nước có truyền thống và kỹ thuật cao trong việc phục chế, không có trường lớp đào tạo 'nghề phục chế' nhưng khi một công việc phục chế đòi hỏi những tri thức về các lĩnh vực nào (lý, hóa, sinh, hội họa, điêu khắc...) thì sẽ tìm, mời chuyên gia trong lĩnh vực đó rồi trang bị cho họ kiến thức bổ trợ về lịch sử - văn hóa và về hiện vật họ sẽ phục chế. Bên cạnh đó là sự hỗ trợ mạnh mẽ của hệ thống trang thiết bị hiện đại như trong một phòng thí nghiệm cỡ lớn. Nhiều nơi, các trung tâm phục chế được ví như 'bệnh viện' của các hiện vật.

Ở nước ta, số lượng hiện vật cần phục chế ở các bảo tàng, ở trong dân gian hiện là con số vô cùng lớn. Nhưng số người đáp ứng được những yêu cầu khắt khe của công việc đó vẫn chỉ đếm được trên đầu ngón tay.

Dường như chúng ta chỉ quen với việc trùng tu, phục dựng các di tích, những công trình nhìn thấy được bên ngoài mà chưa quan tâm nhiều đến những hiện vật đang mòn mỏi trong kho. Dường như đầu tư tu tạo di tích 'dễ' hơn và sẽ 'hoàn vốn' nhanh hơn là phục chế hiện vật. Chúng ta chưa có một chiến lược để phát triển nguồn nhân lực cho ngành phục chế. Mặc dù có hẳn một ngành bảo tồn - bảo tàng được đào tạo ở cấp đại học nhưng số người theo được với nghề phục chế chẳng đáng là bao. Thu nhập theo quy định nhà nước chẳng đủ để các cử nhân mới ra trường, dù say mê và có năng lực, chuyên tâm theo nghề nếu không có những nguồn hỗ trợ (từ gia đình hoặc các công việc khác).

Cũng đã có những khóa huấn luyện trong khuôn khổ một số dự án hợp tác giữa các bảo tàng Việt Nam và các bảo tàng nước ngoài.

Cũng đã áp dụng một cách đào tạo 'đi tắt' hiệu quả là 'học nghề truyền tay' qua những công việc cụ thể - mà dự án phục chế tranh tường ở cung An Ðịnh (Huế) có thể nêu làm thí dụ. Với sự trợ giúp của các chuyên gia Ðức, sau khi hoàn thành dự án đã đào tạo được năm cán bộ khá vững tay nghề cho Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế. Các cán bộ này đang phát huy năng lực trong các công việc liên quan đến phục chế của dự án bảo tồn lăng Tự Ðức. Nhưng số những dự án kết hợp được hai công việc phục chế hiện vật với đào tạo nhân lực như vậy cho đến nay vẫn là con số quá ít ỏi.

Câu chuyện về những chiếc mũ vàng của vua ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã kết thúc có hậu. Nhưng những băn khoăn về công việc phục chế và đội ngũ những người làm phục chế thì vẫn còn đó.

NGÔ VƯƠNG ANH
Theo: