Kiểm soát ô nhiễm không khí vẫn bị buông lỏng

Chủ Nhật, 17/04/2016, 03:54:13
 Font Size:     |        Print
 

Ô nhiễm khí thải phương tiện giao thông hiện chiếm đến 70% nguồn ô nhiễm không khí ở các đô thị.

Thực trạng ô nhiễm không khí ở các đô thị lớn của Việt Nam hiện nay như thế nào? Thật khó để có câu trả lời chính xác khi mà hệ thống công cụ kiểm soát chất lượng không khí ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh đang ở tình trạng hầu như bị “liệt”, có cũng như không.

Trạm quan trắc tê liệt nhiều năm, chưa có giải pháp

Tình trạng ô nhiễm không khí ở Hà Nội lại trở nên nóng khi dư luận giật mình với kết quả nghiên cứu được Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam công bố: mức độ đã ngang bằng Bắc Kinh (Trung Quốc). Nhưng sau đó, cơ quan chức năng và nhiều nhà khoa học Việt Nam đã trấn an dư luận rằng, kết quả quan trắc đó chỉ mang tính thời điểm, chưa phản ánh đúng tình trạng chung của không khí ở Hà Nội. Vậy thì, nếu quan trắc đầy đủ, mức độ của ô nhiễm không khí tại Hà Nội là bao nhiêu? Và cần phải làm thế nào để chúng ta không lặp lại những gì mà Bắc Kinh đang trả giá? Đó đều là những câu hỏi được dư luận quan tâm, nhưng cũng chưa có được câu trả lời thỏa đáng.

Để tiếp cận được thông tin một cách chính thống, phóng viên Báo Nhân Dân cuối tuần đã liên hệ làm việc tại hai trạm quan trắc (TQT) không khí do Trung tâm (TT) Quan trắc và phân tích tài nguyên môi trường Hà Nội, thuộc Sở Tài nguyên - Môi trường (TN-MT) Hà Nội quản lý. Thế nhưng, nỗ lực tìm kiếm thông tin thực địa tại các TQT của chúng tôi đều không thành khi mà đầu mối làm việc được chỉ dẫn lòng vòng từ Sở Tài nguyên - Môi trường Hà Nội sang Chi cục Bảo vệ môi trường Hà Nội, rồi lại đẩy xuống TT Quan trắc và phân tích tài nguyên môi trường Hà Nội (trụ sở tại 36A Phạm Văn Đồng)…

Trạm quan trắc trên nóc nhà bảo vệ tại số 36A Phạm Văn Đồng (Hà Nội) nhiều năm qua đã không cho số liệu.



Câu trả lời mà chúng tôi nhận được từ ông Kiều Mạnh Tuấn, Giám đốc Trung tâm là: Hai TQT được xây dựng từ năm 2000, sau 10 năm hoạt động tốt thì đến năm 2010 bị hỏng hóc. TT Quan trắc và phân tích tài nguyên môi trường Hà Nội đã phải xin ý kiến và mời chuyên gia nước ngoài về sửa chữa vài lần, nhưng cũng không thể hoạt động tốt. Lý giải vì sao TQT hoạt động không hiệu quả, ông Tuấn dẫn lý do vì công nghệ thay đổi (không sản xuất thêm các thiết bị cũ), nên đã không có các thiết bị thay thế, sửa chữa. Muốn được khảo sát thực tế tại TQT còn “chưa hỏng hẳn, và thi thoảng vẫn cho người khởi động máy vì chưa có quy định cho phép dừng (?!)” như lời ông Tuấn nói, thì chúng tôi lại nhận được yêu cầu, lên Sở TN-MT Hà Nội mà hỏi!?

Tìm đến thực địa TQT chỉ có cánh cửa khóa im ỉm… Vì sao một TQT được đầu tư hàng tỷ đồng lại chỉ có tuổi đời 10 năm? Những lạc hậu về công nghệ có được tính đến trong quá trình thiết kế, phê duyệt…? Và nếu chỉ chạy máy như một sự làm phép, thì việc kiểm soát ô nhiễm không khí của Hà Nội được căn cứ vào đâu? Điều đáng nói, tình trạng trên cũng lặp lại ở chín TQT không khí của TP Hồ Chí Minh. Một “đại dự án” nhận vốn tài trợ từ chính phủ Na Uy và Đan Mạch, cũng chỉ hoạt động được từ năm 2003 đến năm 2012 thì tê liệt. Liệu đây có gọi là một sự lãng phí trong đầu tư?

Những số liệu đong đếm mức độ ô nhiễm không khí của Hà Nội theo hình thức quan trắc thụ động (mỗi năm ba đến bốn lần cho công nhân lấy mẫu phân tích), có đủ để bảo đảm sự chính xác cho việc xác định chất lượng không khí như lời khẳng định của ông Kiều Mạnh Tuấn?

Để làm rõ hơn vấn đề, chúng tôi tìm gặp ông Nguyễn Văn Thùy - Giám đốc Trung tâm Quan trắc môi trường (Tổng cục Môi trường). Ông cho biết: “Muốn chữa bệnh thì phải biết được sức khỏe của không khí thế nào mới có phương án. Nhiều năm qua, tại TP Hồ Chí Minh và Hà Nội, các TQT tự động đã bị hỏng. Hiện chỉ còn hai TQT của Tổng cục Môi trường ở Hà Nội là hoạt động. Đúng là quá thiếu! Theo quy chuẩn, cứ 400 nghìn dân thì phải có một TQT không khí”.

Cần một tinh thần mới

Lần ngược trở lại thời điểm năm 2012, được biết, Sở TN-MT Hà Nội đã lập Đề án quy hoạch mạng lưới quan trắc cố định, UBND thành phố Hà Nội cũng đã phê duyệt Quy hoạch mạng lưới quan trắc không khí đến năm 2020. Song đến nay, Đề án cũng chưa được triển khai do thiếu kinh phí. Sở TN-MT đề xuất cấp trên đầu tư xây dựng trước hai TQT không khí, dự kiến đến năm 2017 mới khởi công. Còn mới đây Sở TN-MT TP Hồ Chí Minh cũng đề xuất đầu tư xây dựng 27 TQT tự động và 225 trạm bán tự động với tổng mức đầu tư khoảng 495 tỷ đồng. Đề án dự kiến được trình HĐND thông qua vào ngày 19-4 tới.

Như vậy, đến lúc này, tại Hà Nội, một đề án được thông qua còn treo đó, tại TP Hồ Chí Minh, một dự án đầu tư nếu có được thông qua cũng còn phải chờ đợi kết quả cụ thể trong thực thi, quá trình vận hành trạm… Thực tế đó đòi hỏi các cơ quan chức năng cần rốt ráo và xác định lại tư duy chiến lược trong đầu tư, quy hoạch và chất lượng giám sát vận hành. Việc đầu tư các TQT rồi vận hành và để nó tê liệt một cách lãng phí như khảo sát ở trên cho thấy, không thể được phép lặp lại nữa. Những buông lỏng trong kiểm soát ô nhiễm không khí cần phải được chấm dứt.

Muốn ngăn chặn hiệu quả được ô nhiễm không khí đô thị, bên cạnh việc xây dựng các TQT còn cần đến sự kiểm soát nguồn ô nhiễm từ gốc như kiểm soát ô nhiễm khí thải từ phương tiện giao thông (chiếm đến 70% nguồn ô nhiễm) và khí thải từ các công trình xây dựng. Điều này, cho đến nay, vẫn còn chồng chéo và bất cập trong mối quan hệ tương tác giữa các bộ, ngành, địa phương. Đơn cử, với tư cách là đơn vị liên đới trách nhiệm, Cục Đăng kiểm Việt Nam (Bộ Giao thông vận tải), từ năm 2008, đã đề xuất, và được Chính phủ phê duyệt Đề án kiểm soát khí thải xe máy, tại Quyết định số 909/QĐ-TTg, có hiệu lực thực hiện từ 1-1-2011. Theo đúng lộ trình giai đoạn 2013-2015 sẽ kiểm định khí thải từ 80 đến 90% xe máy tại TP Hồ Chí Minh và Hà Nội. Thế nhưng, Đề án vẫn chỉ nằm trên giấy, cơ quan chuyên trách xin lùi thời gian thực hiện đến năm 2017.

Nếu xét rằng, những khuyến nghị trong đo đạc của Đại sứ quán Hoa Kỳ là chưa phản ánh đúng thực chất mức độ ô nhiễm do kết quả đo đạc chỉ tính theo thời điểm chưa phổ quát 24/24h, thì chúng ta vẫn cứ phải giật mình với những kết quả thu được từ Trung tâm Quan trắc môi trường của Việt Nam. Bởi, theo đó, tại các đô thị, hiện ô nhiễm nặng nhất là khói và bụi, vượt ngưỡng cho phép từ 1,5 đến 3 lần, cao điểm còn lên tới 5 lần. Bụi MP10 và PM2,5 tăng cao tại một số thời điểm, có khả năng đi sâu vào phế nang phổi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người dân. Nếu chúng ta không hành động, thì thời điểm không khí ở Hà Nội ô nhiễm như ở Bắc Kinh cũng không còn xa nữa. Ông Hoàng Dương Tùng, Phó Tổng cục trưởng Môi trường (Bộ TN-MT), đã khuyến nghị như vậy. Giải pháp cho vấn đề này, không chỉ nằm ở phạm vi của tổng cục, mà cần đến sự vào cuộc của cả bộ máy, các cấp chính quyền, cho đến từng người dân, đến mỗi doanh nghiệp… Bởi xét đến cùng, chúng ta đều là nạn nhân và trước hết là thủ phạm gây nên tình trạng ô nhiễm. Và bức xúc, lo lắng ngày hôm nay cần được chuyển hóa thành hành động. Nếu không, thì bài học trả giá về ô nhiễm sẽ đến nhanh hơn cả mức dự tính của những nhà quản lý.


PGS, TS Phùng Chí Sỹ (Tổng Thư ký phía nam, Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam - Giám đốc Trung tâm Công nghệ - Môi trường):

Để kiểm soát ô nhiễm do khí thải giao thông đô thị cần áp dụng tổng hợp nhiều biện pháp như cải thiện chất lượng đường giao thông đô thị, tăng cường diện tích cây xanh ven đường, xây dựng đường tránh, cầu vượt để giảm ùn tắc giao thông; khuyến khích học sinh sử dụng xe đạp, xe đạp điện; khuyến khích sử dụng xăng pha cồn (E5, E10...), các loại xăng sinh học thân thiện với môi trường. Tiếp đó, cần di dời các trường học, bệnh viện có nhiều người ra khỏi khu vực nội thành để tránh tắc nghẽn giao thông...


TS Kwang Kyu Kang (Bộ Môi trường Hàn Quốc):

Trước năm 2000, Hàn Quốc cũng ở tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng. Chính phủ đã thực hiện hàng loạt các giải pháp kiểm soát ô nhiễm như ban hành luật, hỗ trợ người dân dùng phương tiện “xanh”, sử dụng các bộ lọc khí thải, tăng cường quản lý khí thải xe đang lưu hành. Kết quả đã tiến triển rất rõ nét.

Bài và ảnh: Nguyễn Văn Học

Chia sẻ