Tiếp sức cho mô hình dịch vụ công nghệ thông tin

Thứ Sáu, 22/04/2016, 10:28:45
 Font Size:     |        Print
 

Hệ thống giám sát xử lý vi phạm giao thông bằng hình ảnh.

Sau hơn một năm kể từ ngày Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 80/2014/QĐ-TTg về việc cho thí điểm thuê dịch vụ công nghệ thông tin (CNTT) trong cơ quan Nhà nước, đã có một số dự án được triển khai thành công và bước đầu mang lại nhiều kết quả khả quan. Tuy nhiên, số lượng các doanh nghiệp, cơ quan nhà nước thuê ngoài dịch vụ này vẫn còn khiêm tốn so với nhu cầu thực tế bởi vướng mắc trong cơ chế thực hiện.

Lợi ích hấp dẫn

Về mặt bản chất, việc cho thuê ngoài dịch vụ CNTT là làm thay đổi nhận thức về đầu tư cho công nghệ của các cơ quan, DNNN, qua đó thúc đẩy tiến độ dự án, tối ưu hóa chi phí đầu tư… Thay vì bỏ ngân sách đầu tư lớn cho tổng thể một hệ thống công nghệ ngay từ ban đầu, các cơ quan nhà nước có thể chuyển sang hình thức thuê ngoài, tức là trả dần qua nhiều năm. Lợi ích rất rõ ràng, trong năm đầu tiên, với một số tiền ít hơn, nhưng có thể triển khai được nhiều hệ thống CNTT hơn.

Các chuyên gia CNTT cho rằng, một hệ thống ứng dụng CNTT vận hành tốt cần có ít nhất ba thành tố là phần cứng, phần mềm và nguồn nhân lực. Tuy nhiên, để đầu tư phần cứng, phần mềm…, các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp tốn rất nhiều chi phí nhưng chỉ khai thác khoảng 20-30% công suất; hơn nữa, cứ trung bình sau ba năm lại phải nâng cấp hoặc đầu tư mới hệ thống phần cứng và phần mềm. Trong khi đó, khi chuyển sang thuê dịch vụ CNTT, các cơ quan và DNNN sẽ tiết kiệm được nguồn ngân sách và thời gian bởi lẽ khâu vận hành hệ thống sẽ được thực hiện một cách chuyên nghiệp nhất bởi đơn vị cung cấp dịch vụ cho thuê.

Những điểm sáng tích cực

Với những lợi ích đó, thời gian qua, nhiều dự án CNTT của các cơ quan, DNNN đã được chuyển sang hình thức thuê ngoài. Đơn cử như tại Văn phòng Chính phủ đang thuê các doanh nghiệp như Viettel, VNPT, GlobalSign, VDC cung cấp 11 dịch vụ CNTT như dịch vụ hội nghị truyền hình trực tuyến; dịch vụ máy tính và phần mềm phục vụ họp thường kỳ Chính phủ… Dự kiến từ nay đến năm 2020,Văn phòng Chính phủ sẽ tiếp tục thuê 10 dịch vụ CNTT khác.

Trong lĩnh vực y tế, Hải Phòng là địa phương đầu tiên triển khai thành công Cổng giám định Bảo hiểm y tế trực tuyến theo mô hình xã hội hóa và bước đầu mang lại kết quả khả quan. Trong bốn tháng, đã có hơn 700.000 hồ sơ được tiếp nhận và xử lý trên phần mềm mới…

Trong lĩnh vực giao thông, Hệ thống vé tàu điện tử của Tổng công ty Đường sắt Việt Nam (thuê lại của FPT) đã triển khai thành công được gần hai năm. Đặc biệt, nhờ việc thuê dịch vụ CNTT mà tổng công ty này chỉ mất 11 tháng bao gồm việc hoàn tất các thủ tục pháp lý, đánh giá hệ thống mới và triển khai toàn quốc. Hệ thống mới giúp tốc độ bán vé của ngành đường sắt liên tục tăng so với các năm trước, người dân có thêm tiện ích. Gần đây, Bộ Giao thông vận tải (GTVT) cũng đã cho phép xây dựng hệ thống giám sát xử lý vi phạm bằng hình ảnh trên tuyến cao tốc Nội Bài - Lào Cai, đoạn Nội Bài - Phú Thọ và tuyến Pháp Vân - Cầu Giẽ theo hình thức xã hội hóa. Hiện các nhà đầu tư là FPT, Hanel đã bắt tay triển khai xây dựng. Trong đó, hệ thống trên tuyến cao tốc Nội Bài - Lào Cai do FPT đầu tư xây dựng đã hoàn thành và sẽ chính thức đi vào hoạt động từ 1-5-2016. Bộ GTVT đang chỉ đạo Hanel hoàn thành hệ thống trong và đưa vào sử dụng chậm nhất ngày 1-7-2016.

Tại Việt Nam hiện đang có ba loại hình dịch vụ CNTT thường hay được các cơ quan Nhà nước thuê của doanh nghiệp. Một là, dịch vụ bảo trì, bảo dưỡng hệ thống CNTT, quản trị mạng, có quy mô thị trường khoảng 4.000 - 5.000 tỷ đồng/năm. Hai là, dịch vụ quản trị, vận hành hệ thống ứng dụng CNTT lớn như ngân hàng lõi, thuế thu nhập cá nhân, cấp phát ngân sách - kho bạc quốc gia... Ba là, dịch vụ cho thuê phần mềm trên nền tảng điện toán đám mây với rất nhiều loại phần mềm khác nhau…

Cần quyết tâm cao để gỡ rào cản

Mới đây, Chính phủ đã ra Nghị quyết 36a/NQ-CP về Chính phủ điện tử, trong đó khuyến khích các cơ quan, tổ chức nhà nước đẩy mạnh ứng dụng CNTT theo mô hình thuê dịch vụ CNTT. Mặc dù loại hình trên có nhiều ưu điểm, nhưng triển khai vẫn còn khiêm tốn so với nhu cầu thực tế. Bởi, mô hình mới vẫn chưa có được các căn cứ pháp lý hoàn chỉnh, và các quy trình thủ tục thực hiện chưa được rõ ràng.

Thí dụ như, đại diện VNPT lý giải những khó khăn trong quá trình triển khai là do chưa rõ sẽ lấy kinh phí từ vốn đầu tư hay chi thường xuyên, và cũng chưa có hướng dẫn cụ thể về giá thuê… Một số doanh nghiệp CNTT khác thì cho rằng, tâm lý e ngại, và lối tư duy “phải sở hữu, nhìn thấy, phải cầm, nắm thì mới an tâm” tại các cơ quan nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp khi đi thuê dịch vụ CNTT chính là rào cản lớn nhất.

Còn theo phân tích của ông Nguyễn Thành Phúc, Cục trưởng Cục Tin học hóa (Bộ Thông tin và Truyền thông), nguyên nhân chậm triển khai là do nhiều lãnh đạo địa phương chưa chỉ đạo sát sao việc triển khai ứng dụng CNTT gắn với cải cách hành chính và phát triển kinh tế - xã hội, vì có tâm lý e ngại rủi ro trong quá trình triển khai.

“Để giải quyết được vấn đề này cần có sự quyết tâm hợp tác của cả hai bên, dám làm dám chịu trên tinh thần lấy lợi ích hệ thống đặt lên hàng đầu, gặp khó khăn đến đâu cùng nhau tháo gỡ đến đấy. Khi hệ thống đi vào hoạt động, lợi ích của hệ thống đã rõ ràng, chắc chắn việc trả tiền thuê sẽ có cách giải quyết”, ông Phạm Minh Tuấn, Tổng Giám đốc Công ty Hệ thống thông tin FPT nhấn mạnh. Đơn cử như với Hệ thống giám sát xử lý vi phạm giao thông trên tuyến cao tốc Nội Bài - Lào Cai. Kể từ khi FPT đề xuất xin xây dựng hệ thống này cho đến khi hoàn thiện mất khoảng một năm, trong đó chỉ có khoảng một tháng để triển khai lắp đặt, 11 tháng còn lại là để… ngóng chờ cơ chế. Từ kinh nghiệm thực tế triển khai một số dự án theo hình thức cho thuê dịch vụ công nghệ thông tin của FPT, ông Tuấn chỉ ra ba yếu tố chính dẫn đến sự thành công: Đó là sự ủng hộ của Chính phủ; sự quyết tâm của các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước và tinh thần tiên phong của doanh nghiệp CNTT: vừa làm vừa cùng khách hàng giải quyết các vấn đề phát sinh.

AN KHÁNH