110 năm Ngày sinh Tổng Bí thư Hà Huy Tập (24-4-1906 - 24-4-2016)

Sáng mãi nhân cách người cộng sản

Thứ Sáu, 22/04/2016, 03:33:03
 Font Size:     |        Print
 

Ảnh: HOÀNG NGÀ

Hà Huy Tập là một trong những chiến sĩ cộng sản tiền bối tiêu biểu, một Tổng Bí thư tài năng của Đảng. Đồng chí đã phấn đấu, cống hiến, hy sinh không mệt mỏi trọn đời mình cho lý tưởng cách mạng, cho độc lập, tự do của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Đồng chí đã có nhiều cống hiến to lớn cho Đảng và cách mạng Việt Nam, luôn sáng mãi một nhân cách cộng sản cao quý.

Đồng chí Hà Huy Tập sinh ngày 24-4-1906, trong một gia đình nhà nho yêu nước tại làng Kim Nặc, tổng Thổ Ngọa, nay là xã Cẩm Hưng, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. Ngay từ thuở nhỏ, Hà Huy Tập đã sớm bộc lộ tư chất thông minh sáng dạ, có năng lực tiếp nhận kiến thức, nhất là tri thức mới. Được hun đúc bởi truyền thống yêu nước của quê hương, sự giáo dục của gia đình, với bản tính cương trực, thẳng thắn, Hà Huy Tập không cam tâm chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, sớm dấn thân vào con đường hoạt động cách mạng.

Cuối năm 1925, Hà Huy Tập gia nhập tổ chức Phục Việt, tham gia hoạt động cách mạng đầu tiên ở thành phố Nha Trang. Tân Việt Cách mạng Đảng có một vị trí, vai trò to lớn đối với cách mạng Việt Nam, mà chính Hà Huy Tập lại là một trong những yếu nhân của tổ chức đó. Sau này, sự phân liệt của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên đã tạo ra những tiền đề mới để cải tổ Tân Việt Cách mạng Đảng thành Đông Dương Cộng sản Liên đoàn - một trong ba tổ chức hợp thành Đảng Cộng sản Việt Nam sau đó. Vì thế, tuy không phải là người sáng lập Đảng, nhưng bằng những hoạt động và đóng góp của mình trong Tân Việt Cách mạng Đảng, đồng chí Hà Huy Tập đã có vai trò và ảnh hưởng quan trọng tới việc ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Sau những năm tháng hoạt động ở Liên Xô, Hà Huy Tập trở về Trung Quốc, cùng với Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Dựt tham gia thành lập Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương, tích cực chuẩn bị mọi điều kiện cần thiết để tiến tới tổ chức Đại hội đại biểu của Đảng. Trong hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn mọi mặt, bằng nỗ lực phi thường và trách nhiệm của người đảng viên, đồng chí đã thể hiện bản lĩnh kiên trung, hoàn tất mọi công việc với chất lượng cao nhất. Tháng 3 năm 1935, tại Đại hội lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương ở Ma Cao (Trung Quốc), đã thông qua các văn kiện quan trọng, chấm dứt tình trạng thiếu hệ thống tổ chức, lãnh đạo của Đảng kéo dài từ năm 1930, do bị kẻ thù khủng bố, đàn áp. Tại Đại hội này, Lê Hồng Phong được bầu làm Tổng Bí thư, Hà Huy Tập được Quốc tế Cộng sản chỉ định là Thư ký Ban Chỉ huy ở ngoài.
Tại Hội nghị giữa đại diện Ban Chấp hành Trung ương và Ban Chỉ huy ở ngoài, tháng 7 năm 1936, Hà Huy Tập được cử làm Tổng Bí thư của Đảng, được phân công về nước. Từ đây, đồng chí phải đảm nhận một trọng trách mới cao quý mà nặng nề hơn gấp bội và đã có nhiều cống hiến quan trọng trong việc khôi phục tổ chức Đảng, đưa đến cao trào cách mạng 1936-1939.

Từng được học tại Trường đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản, có điều kiện trang bị một cách hệ thống về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, những kiến thức về lịch sử Đảng Cộng sản Liên Xô, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, đồng thời còn được tiếp xúc trực tiếp với một số tác phẩm kinh điển của các lãnh tụ hàng đầu của giai cấp vô sản thế giới, với trí tuệ mẫn tiệp và trình độ học vấn vững vàng, Hà Huy Tập đã sớm trở thành một nhà lý luận sắc sảo, một ngòi bút giàu tính chiến đấu, góp phần quan trọng vào việc xây dựng, củng cố và phát triển Đảng ta về lý luận.

Sinh thời, Hà Huy Tập đã từng khẳng định, mỗi khi thực tiễn đất nước nảy sinh những vấn đề cần phải được giải đáp về lý luận, Đảng cần phải đứng trên lập trường, quan điểm, phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lê-nin để tổng kết những kinh nghiệm thực tiễn, trên cơ sở đó, định ra đường lối, phương châm, bước đi cụ thể thích hợp với thực tiễn cách mạng nước ta.

Từng làm Tổng Biên tập Tạp chí Bôn-sơ-vích, cơ quan ngôn luận của Ban Chỉ huy ở ngoài, từng cùng với các đồng chí của mình biến Sài Gòn trở thành trung tâm hoạt động báo chí cách mạng thời kỳ Mặt trận Dân chủ Đông Dương, Hà Huy Tập đã sử dụng ngòi bút là phương tiện để đường lối của Đảng được thấm nhuần trong mỗi đảng viên và quần chúng. Với lối tư duy chặt chẽ, khoa học, các bài viết của đồng chí đề cập khá toàn diện các vấn đề cơ bản, cốt lõi đường lối, chính sách của Đảng ta lúc bấy giờ, góp phần tuyên truyền, nêu cao truyền thống đấu tranh anh dũng của Đảng, chống lại các luận điệu xuyên tạc của kẻ thù, khơi dậy lòng tự hào, niềm tin tưởng trong nhân dân vào Đảng khi cách mạng thoái trào, đồng thời đây cũng là tài sản lý luận vô giá, góp phần làm phong phú trí tuệ của Đảng.

Nhân cách Hà Huy Tập thể hiện ở tài năng tổ chức. Thời kỳ hoạt động trong Hội Phục Việt, một trong những tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản, Hà Huy Tập là một yếu nhân góp phần phát triển tổ chức của Hội. Sau này, đi theo đường lối của Đảng Cộng sản, Hà Huy Tập đã quyết tâm và trọn đời hy sinh cho sự nghiệp của Đảng. Vào những thời điểm khó khăn nhất, liên quan đến sự sinh tồn của Đảng, với ý chí kiên cường, đồng chí đã vượt qua mọi khó khăn góp phần duy trì sự tồn tại của tổ chức Đảng, nhất là thời kỳ 1934 - 1938.

Với sự trực tiếp chỉ đạo của đồng chí Hà Huy Tập, hệ thống tổ chức Đảng bao gồm sáu cấp: Trung ương - Ban Chấp hành Trung ương và các cơ quan tham mưu; tỉnh và tương đương (thành, đặc khu); huyện và tương đương (phủ, châu, quận, thành phố nhỏ); tổng - xã; chi bộ - tổ chức cơ sở Đảng đã dần dần được khôi phục. Có thể nói, vào thời điểm nhiều cam go và nhiều thử thách nhất, liên quan đến sinh mệnh của Đảng, đồng chí Hà Huy Tập đã thể hiện bản lĩnh kiên cường, sự linh hoạt và sáng tạo của người cộng sản, góp phần khôi phục tổ chức, bảo đảm quá trình lãnh đạo liên tục và thống nhất của Đảng.

Là một người kiên định, Hà Huy Tập kiên quyết chống lại mọi biểu hiện dao động, sai trái về lập trường, tư tưởng. Ngay từ thời kỳ còn học tập tại Liên Xô, Hà Huy Tập đã có những bài viết sắc sảo xoay quanh những vấn đề đấu tranh về tư tưởng, bảo đảm giữ vững sự trong sạch, vững mạnh và thống nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương. Đồng chí khẳng định một trong những khó khăn của Đảng ta đó là cuộc đấu tranh về mặt tư tưởng để chống lại chủ nghĩa cơ hội, khuynh hướng manh động, khủng bố, cá nhân biệt phái và chủ nghĩa công đoàn.

Năm 1932, trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Hà Huy Tập đã khái quát lên ba nội dung lớn về nhiệm vụ của Đảng Cộng sản Đông Dương, trong đó có hai nội dung đồng chí yêu cầu phải đấu tranh hết sức nghiêm khắc về mặt tư tưởng và chính trị, chống chủ nghĩa cải lương quốc gia tư sản; phê phán mạnh mẽ tính không nhất quán, tính do dự của các Đảng cách mạng quốc gia tiểu tư sản.

Bản thân Hà Huy Tập luôn thể hiện quan điểm tuân thủ và giữ vững nguyên tắc tính Đảng, tuân thủ đường lối chính trị của Đảng; kịp thời khắc phục những lệch lạc, sai lầm “tả khuynh” và “hữu khuynh”, đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, xét lại, chống giáo điều, bảo thủ. Đồng chí đã đấu tranh bảo vệ quan điểm về Đảng Cộng sản, đội tiên phong của giai cấp vô sản với một hệ tư tưởng vững chắc, bảo vệ đường lối chính trị và kỷ luật của Đảng, thống nhất về ý chí, nguyên tắc và hoạt động cách mạng.

Trên mặt trận đấu tranh vạch trần bộ mặt giả hiệu, đầu cơ cách mạng của bọn Trốt-kít, đồng chí là một trong những cây bút sắc bén. Những cuốn sách và bài báo của đồng chí đã góp phần quan trọng vào việc đập tan các luận điệu xuyên tạc của bọn giả danh cách mạng, kêu gọi siết chặt hàng ngũ; đưa tư tưởng và lý luận chân chính của Đảng thấm nhuần trong mọi đảng viên và đến với quần chúng nhân dân, thống nhất tư tưởng và hành động cách mạng.

Hà Huy Tập hoạt động yêu nước và cách mạng từ sớm. Giữ các chức vị cao trong Đảng, đảm nhận vai trò Tổng Bí thư ở tuổi đời mới 30, trong gần hai năm (10-1936 đến 3-1938), đồng chí đã cố gắng hết mình, tận tụy, trung thành tuyệt đối với sự nghiệp, con đường đã lựa chọn. Sự kiên trinh của đồng chí là một tấm gương sáng ngời về tinh thần chiến đấu của một chiến sĩ cách mạng nhiệt huyết yêu nước. Đồng chí bị kẻ thù bắt giam cầm, quản thúc không chỉ một lần. Nhưng tinh thần yêu nước, cống hiến với cách mạng của đồng chí thì không hề bị lung lay, phai mờ. Tuy bị kẻ thù bắt và giết hại khi tuổi đời còn khá trẻ (35 tuổi), nhưng cho đến lúc hy sinh, đồng chí vẫn là một tấm gương dũng liệt sáng ngời, một lòng vì lý tưởng của cách mạng. Trước lúc hy sinh, đồng chí vẫn bình thản và khẳng định: “Tôi chẳng có gì phải hối tiếc, nếu còn sống tôi vẫn tiếp tục hoạt động”.

Bị cáo buộc “chịu trách nhiệm tinh thần về cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ”, ngày 28-8-1941, đồng chí Hà Huy Tập bị thực dân Pháp xử bắn tại trường bắn ngã tư Giếng nước, Hóc Môn, Gia Định. Trong bức thư cuối cùng gửi về gia đình, đồng chí viết: “Gia đình và bạn hữu chớ xem tôi như là người chết mà phải buồn; trái lại nên xem tôi như là người còn sống, nhưng đi vắng một thời gian vô hạn... mà thôi” (1). Đối với đồng chí, cái chết không có gì đáng sợ; cái chết cũng là hình thức thể hiện bản lĩnh làm người và tái sinh sự sống!

Đúng vậy, sự nghiệp cách mạng cao cả, tấm gương hy sinh vì dân, vì nước của Tổng Bí thư Hà Huy Tập mãi mãi sống trong tâm tưởng của cán bộ, đảng viên, nhân dân và mọi người Việt Nam yêu nước!

-------------------------

(1) Chương trình viết tiểu sử các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, Hà Huy Tập - tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia, H., 2006, tr. 321.

PGS, TS PHẠM NGỌC ANH

Chia sẻ