Người dân vùng tái định cư thủy điện Sơn La, Lai Châu:

Bao giờ mới “lạc nghiệp”?

Chủ Nhật, 24/04/2016, 03:57:17
 Font Size:     |        Print
 

Gia đình ông Sấn, bà Viêng đang phải nỗ lực cải tạo phần đất bán ngập nước mới được giao.

Người dân vùng tái định cư (TĐC) nhường đất cho dự án thủy điện thuộc hai tỉnh Lai Châu và Điện Biên sẽ làm gì để sống, khi không còn sự hỗ trợ của Nhà nước? Câu hỏi thật khó tìm lời giải, khi người dân lâm vào cảnh thiếu đất sản xuất, thiếu việc làm còn chính quyền các cấp loay hoay với những giải pháp thiếu hiệu quả.

Nhà đẹp, gạo thiếu

Bập từng nhát cuốc xuống nền đất sỏi đá, vợ chồng ông Điêu Văn Sấn- bà Lường Thị Viêng ở bản Na Nát, phường Na Lay (thị xã Mường Lay, Điện Biên) chốc chốc lại đứng lên thở dài. Cả gia đình ông bà đã rất tích cực cải tạo đất, nhưng chẳng biết cây khoai nước khi trồng xuống có chịu sinh trưởng trên nền đất cứng đơ. “Đây là năm đầu tiên thị xã giao vùng đất bán ngập thuộc dự án Nhà máy thủy điện Sơn La cho bản Na Nát chúng tôi canh tác. Trước đây đất đai màu mỡ, nay biến thành vùng hồ thủy điện, nước rút cạn đáy sáu tháng thì chúng tôi phải tính toán trồng cây gì đó ngắn ngày. Hoặc khoai nước, hoặc lúa giống mới. Nhưng trồng thì trồng, chứ chẳng biết có được ăn hay không!”, ông Sấn vung cánh tay lên không trung, ánh mắt có phần sẫm lại. Nói rồi, ông giơ cao cuốc, bổ xuống đất như muốn trút bớt lo toan. Phía bên, hàng chục hộ dân bản Na Nát cũng đang gắng gỏi cải tạo đất, gieo trồng kiếm gạo ăn, bởi kể từ ngày 31-12-2015 là hết thời hạn ba năm bà con được nhà nước cấp phát gạo và một số nhu yếu phẩm.

Ngược về thời điểm năm 2006, khi việc di dân tại Mường Lay bắt đầu được triển khai, có 970 hộ TĐC gắn với nông nghiệp. Vậy nhưng, phải sau 7 năm chờ đợi, 360 hộ mới được giao đất sản xuất. Các hộ dân còn lại được giao dần theo các năm và đến tận cuối năm 2015, 108 hộ bản Na Nát mới được giao đất bán ngập, diện tích khoảng 180m2/người. Nhiều người dân cho biết, với khoảnh đất nhỏ bé như vậy rất khó sống. Trong khi họ bị cấm khai hoang đất trên đồi núi, chỗ nào được phép thì đã “có chủ”. Vợ ông Sấn - bà Viêng chỉ tay về phía dãy nhà TĐC khang trang: “Dà, ở thì tốt rồi, hoa nở đẹp hàng rào đấy, nhưng biết làm gì để có cái ăn khi ruộng nương không sinh hoa kết trái. Bên bản Nậm Cản người ta được chia ruộng trước, cấy lúa rồi, hạt thóc thì dài, nhưng lép xẹp. Khổ cho thằng Vát (anh Điêu Văn Vát), vừa vác cuốc xuống bập vài cái, dính đá, lưỡi cuốc văng trúng chân chảy máu, vừa phải lội về rồi”.

Chịu chung nỗi khổ với người dân, ông Điêu Văn Vấn, Trưởng bản Na Nát cho biết, đất bán ngập vùng lòng hồ chưa có công trình thủy lợi, nên trồng cái gì cũng khó. “Không việc làm thì gay lắm. Thời gian được hưởng gạo hỗ trợ, một số thì chăn nuôi nhỏ, một số đi làm thuê. Nhưng không thể cầm cự mãi được!”, ông Vấn nhấn mạnh.

Người dân lựa chọn phương án gắn với nông nghiệp đã khó khăn, những người chọn phương án bồi thường phi nông nghiệp lại đối mặt với những trở ngại cũng phức tạp không kém. Ông Hoàng Văn Phiến, Tổ trưởng tổ 7, phường Na Lay thở dài: “Dân chúng tôi phi nông nghiệp, ba không: không nghề, không chỗ chăn nuôi, không tương lai. Người dân có được gọi đi học cơ khí, chăn nuôi. Nhưng học cơ khí xong không có chỗ tiếp nhận, chăn nuôi thì không có đất làm chuồng. Đẹp mà không việc thì nhà chỉ thành cái xác nhà thôi”.

Để rộng nguồn tin, chúng tôi tiếp tục tìm đến vùng đặc biệt khó khăn khác của Điện Biên - huyện Tủa Chùa, nơi có hàng trăm hộ dân cũng đang bất an do việc bố trí TĐC không hợp lý. Tiêu biểu như người dân ở xã Pác Na, từ năm 2006 về TĐC ở bản Huổi Lực 1 và 2 (xã Mường Báng), thứ gì cũng phải đi mua, trong khi sau ba năm mới được giao đất, nên nhiều tháng trời thiếu ăn. Tại tỉnh Lai Châu cũng có nhiều thôn bản chung cảnh (cùng lúc thực hiện dự án thủy điện Lai Châu, Bản Chát và chịu ảnh hưởng bởi dự án Nhà máy thủy điện Sơn La). Người dân ở các huyện Nậm Nhùn, Sìn Hồ đã có nhiều kiến nghị về tình trạng bất ổn do thiếu nguồn sinh kế, nên vào tháng 2-2016, UBND tỉnh Lai Châu mới quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất rừng và lâm nghiệp thành đất trồng lúa cho xã Mường Mô, huyện Nậm Nhùn.

Khó khăn chỉ mới bắt đầu?

Mang theo những nỗi chật vật, khó khăn của người dân các vùng chịu ảnh hưởng của các dự án thủy điện đang phải chịu đựng từng ngày để tìm mọi phương cách ổn định cuộc sống, cùng rất nhiều câu hỏi cần lời giải đáp, chúng tôi tìm đến các cấp quản lý địa phương. Nhưng những câu trả lời thật sự làm chúng tôi thấy nhói lòng. Người đầu tiên chúng tôi tìm gặp là ông Phan Tuấn Anh, Phó Trưởng phòng Quản lý đất đai (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lai Châu). Ông cho rằng, đến nay tỉnh vẫn chưa có báo cáo đầy đủ về công tác di dân, TĐC, ổn định đời sống cho người dân, bởi công tác này vô cùng phức tạp. Trả lời cho những thắc mắc của chúng tôi về những băn khoăn, trăn trở của người dân vùng TĐC, ông Tuấn Anh cho rằng: “Theo tập tục, bà con sống phụ thuộc vào núi rừng, sông suối. Khi về nơi ở mới thì các điều kiện đó không còn. Nên nói là tốt hơn nơi ở cũ thì cũng chưa hẳn, bởi nhiều người dân vẫn thích cuộc sống như xưa”.

Còn ông Trần Văn Dũng, quyền Trưởng ban Quản lý dự án, bồi thường TĐC tỉnh Lai Châu cho biết, hiện công tác di dân trên địa bàn tỉnh đã xong 100%, công trình phúc lợi mới được 90%, nhưng rất nhiều công trình đến nay đã xuống cấp nghiêm trọng. “Cái khó của công tác TĐC là cơ chế phối hợp chưa được thực hiện tốt. Rồi nguồn vốn còn đọng, chính sách thủ tục lại rườm rà, tranh chấp nhiều dẫn đến khiếu nại kéo dài”, ông Dũng phân trần.

Cơ quan có trách nhiệm kêu khó, còn người dân chỉ biết kiến nghị lên các cấp chức năng nhưng không phải lúc nào cũng được thấu hiểu. Nhìn khuôn mặt phạc phờ như sắp trào nước mắt của rất nhiều người dân khi chia sẻ về những khó khăn mà họ đang phải đối mặt, tôi cảm nhận rất rõ sự thất vọng của họ, bởi cuộc sống nơi ở mới không tốt hơn nơi cũ như đã được hứa hẹn. Đến nay, tại Điện Biên và Lai Châu đang lặp lại tình trạng đã xảy ra ở nhiều khu TĐC thủy điện: người dân di cư ngược về nơi ở cũ. Ông Lê Thanh Bình, Chủ tịch UBND huyện Tủa Chùa (Điện Biên) xác nhận: “100% hộ TĐC có nhà ở kiên cố theo tiêu chuẩn của Bộ Xây dựng. Một số điểm dân cư còn chưa có đường giao thông, công trình phúc lợi và thiếu đất sản xuất, một số đã bỏ về nơi ở cũ”.

Có điều đáng nói là, trong những ngày diễn ra Hội nghị tổng kết Dự án di dân TĐC Thủy điện Sơn La trên địa bàn huyện Mường Lay và tỉnh Điện Biên giữa tháng 4-2016, dù những khó khăn của người dân đã được phản ánh và ghi nhận, vậy nhưng, vẫn chưa có phương án khả thi nào để cải thiện đời sống người dân các vùng TĐC được cơ quan chức năng đề xuất.

Xét cho cùng, công tác hậu TĐC là cực kỳ quan trọng. Về nhà ở, phần nhiều hộ đã “an cư”, song điều cần hơn thế là người dân làm nông nghiệp cần đất sản xuất, hộ lựa chọn hướng phi nông nghiệp cần cái nghề thiết thực để làm, có thu nhập. Rõ ràng, vẫn có một khoảng cách không nhỏ giữa chính sách và thực tế, nên để xảy ra tình trạng, các đơn vị liên quan đến việc dạy nghề đã nỗ lực hết sức, song học nghề điện tử, cơ khí thì người dân “không có đất dụng võ” như nhiều thanh niên phát biểu, mà học nghề nông nghiệp thì đất đai không còn. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Trần Thanh Nam cho rằng, Điện Biên cần hoàn thành những phần việc dở dang còn lại của dự án trong năm 2016; tăng cường công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, đổi mới phương thức đào tạo nghề nông thôn gắn với thực tiễn sản xuất. Tiếp nhận những đóng góp ấy, Chủ tịch UBND tỉnh Điện Biên Mùa A Sơn, mong mỏi Chính phủ, các bộ, ngành trung ương khẩn trương kiểm tra, rà soát đánh giá lại tổng thể các lĩnh vực Dự án di dân, TĐC thủy điện Sơn La, làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách đối với các vùng thuộc dự án.

Dự án đã “tổng kết”, song ngoài thực tế, những khó khăn của người dân mới chỉ bắt đầu! Câu hỏi lấy đất đâu để cho dân sản xuất và học nghề gì cho hiệu quả vẫn còn bị bỏ ngỏ.

Phóng sự của Nguyễn văn học

Ông Hà Quang Minh - Phó Trưởng phòng phụ trách Dạy nghề (Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Điện Biên), cho biết: Việc dạy nghề gặp khó khăn lớn. Nhiều con em năng lực yếu nhưng chỉ muốn học cao đẳng, đại học mà không tha thiết học nghề. Đó là chưa kể đến tâm lý ỷ lại của một số hộ, khi được hỗ trợ gạo. Qua vài năm “ngồi chơi xơi nước”, không phải làm việc, nên tái khởi động lại là vấn đề không đơn giản.