Chuyển đổi mô hình sinh kế thích ứng biến đổi khí hậu

Thứ Bảy, 23/12/2017, 01:17:48
 Font Size:     |        Print
 

Người dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên thực hiện canh tác lúa theo kế hoạch nông vụ do các chuyên gia từ dự án hỗ trợ thích ứng BĐKH của Tổ chức CARE Quốc tế tại Việt Nam triển khai). Ảnh do CARE cung cấp.

Biến đổi khí hậu đã và đang khiến thiên tai và thời tiết ngày càng cực đoan, gây tổn hại nhiều vùng đất và đe dọa sự phát triển bền vững của nhiều lĩnh vực, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp. Với gần 75% dân số Việt Nam sống tại các vùng nông thôn, việc tìm kiếm sinh kế bền vững cho người dân đang trở thành vấn đề vô cùng cấp thiết.

Biến đổi khí hậu, thiên tai và sinh kế người dân

Trong vòng 10 năm gần đây, hầu như năm nào chúng ta cũng được nghe đến các từ bão lịch sử, lũ lịch sử, triều cường lịch sử, hạn hán lịch sử, nắng nóng kỷ lục, lũ quét lịch sử… Điều rõ ràng là, biến đổi khí hậu đã và đang khiến thiên tai và thời tiết ngày càng cực đoan theo cả hai xu hướng: tăng về tần suất xuất hiện và tăng về cường độ, mức độ ảnh hưởng đến kinh tế, xã hội, môi trường.

Mười năm trước đây, năm 2007, lần đầu Ngân hàng Thế giới đưa ra cảnh báo: Việt Nam là một trong năm quốc gia sẽ chịu ảnh hưởng lớn nhất do BĐKH gây ra trong thế kỷ 21. Lời cảnh báo đó, chúng ta đã không phải đợi quá lâu để thấy được tác động ghê gớm của BĐKH gây ra ở đất nước chúng ta. Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong vòng hai thập kỷ qua, các đợt thiên tai đã làm hơn 13.000 người thiệt mạng, thiệt hại kinh tế ước tính 6,4 tỷ USD. Từ đầu năm 2017 đến nay, Việt Nam đã chịu ảnh hưởng tới 14 cơn bão, nhiều đợt mưa lớn, lũ quét, sạt lở đất, làm 386 người chết và mất tích, thiệt hại 60.000 tỷ đồng (tương đương 2,6 tỷ USD). Năm 2017 cũng là năm có số lượng các hiện tượng thiên tai cực đoan xảy ra nhiều nhất trong vòng 10 năm qua với mức độ khốc liệt hơn trước.


Công nghệ trồng rau khí canh đang được thử nghiệm tại Lâm Đồng, vừa tiết kiệm nước tưới, phù hợp các hình thái thời tiết khô hạn. Ảnh: Kim Anh

Những con số thống kê về thiệt hại do thiên tai và thời tiết cực đoan kể trên chỉ mới là phần nổi của một tảng băng về tác động do thiên tai, bão lũ và hạn hán gây nên. Đó mới chỉ là những con số thống kê thiệt hại tại chỗ. Kéo theo đó còn là những gánh nặng nợ ngân hàng, sự ảnh hưởng sinh kế lâu dài của người dân các vùng dễ bị thiên tai như Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, Nam Bộ và Tây Nguyên. Hầu hết người dân ở các vùng này có sinh kế và nghề nghiệp gắn liền với hoạt động chăn nuôi, trồng trọt và khai thác nuôi trồng thủy hải sản.

Trong khi đó, những ngành này cũng là những ngành bị tác động lớn nhất do BĐKH và thiên tai gây ra. Lấy thí dụ đợt hạn, mặn năm 2016 gây thiệt hại 190 nghìn ha đất nông nghiệp ở Trà Vinh mới chỉ là tác động nhìn thấy được vào thời điểm đó. Hậu quả của hạn mặn tiếp tục kéo dài đến bây giờ và sẽ còn dai dẳng kéo dài với những diễn biến khí hậu ngày càng cực đoan. Đợt hạn mặn kéo dài đó đặt ra cho chúng ta câu hỏi: Bỏ lúa hay không bỏ lúa?

Lúa là cây trồng nhạy cảm với hạn và mặn. Trồng lúa tốn rất nhiều nước vì phải tưới tràn chứ không thể tưới nhỏ giọt hay tưới phun vì vậy trong điều kiện thiếu nước ngọt như hiện nay ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), sẽ là một thách thức lớn nếu muốn kéo dài canh tác cây lúa.

Nhưng nếu không trồng lúa thì người dân làm gì? Trà Vinh có mô hình nuôi bò, lợn và gà thả vườn. Cả ba loại vật nuôi này đã và đang gặp khủng hoảng rớt giá thảm hại và người dân nào nuôi các con vật trên cũng đang mang nợ ngân hàng.

Cây dừa cũng là thế mạnh của Trà Vinh nhưng sau đợt hạn năm 2016 thì năm nay dừa ít trái hẳn. Các cây ăn quả khác cũng giảm năng suất. Trồng rau màu thì có thể chủ động được nước tưới bằng cách tưới phun nhưng giá quá rẻ.

Bởi lý do đó mà có đến 50% người ở độ tuổi lao động ở các vùng mà chúng tôi khảo sát đã di cư lên Bình Dương, TP Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Lâm Đồng để làm thuê theo ngày. Ở quê giờ chủ yếu là người già và trẻ nhỏ. Các đô thị cũng vì thế mà chịu áp lực bởi sự tăng dân số cơ học một cách đột biến.

Chuyển đổi bài toán an ninh lương thực

Để chủ động thích ứng với BĐKH và phòng chống thiên tai, từ góc nhìn yêu cầu tạo sinh kế cho người dân, cần sự tiếp cận liên vùng và đa lĩnh vực. Trong đó, chú trọng hai khía cạnh quan trọng sau đây:

Đầu tiên, đó là chuyển đổi mô hình sinh kế đồng bộ kết hợp với thị trường. Trong những năm gần đây đời sống người dân vùng nông thôn, nhất là vùng trồng lúa đã không còn lo lắng về bài toán an ninh lương thực nhưng thật sự bất an trong bối cảnh tác động của BĐKH. Người dân chỉ làm đủ ăn mà không nâng cao thu nhập để bảo đảm tái đầu tư sinh lời hay nâng cao sức chống chịu với thiên tai một cách toàn diện. Chẳng hạn, với mô hình trồng lúa và cây hoa màu hiện tại, người dân ở miền trung và ĐBSCL không thể có nguồn tài chính đủ mạnh đầu tư cho việc xây dựng nhà cửa kiên cố để có thể chống lại các cơn bão với cấp gió 12 trở lên, hoặc với những đợt lụt lịch sử nghiêm trọng như vừa xảy ra trong các năm 2016 và 2017. Một trong những nguyên nhân là do chậm giải được bài toán chuyển từ an ninh lương thực sang thu nhập.

Nói cách khác, ngành nông nghiệp đã thiếu quyết đoán trong việc tái cơ cấu lại ngành này dù nước ta đã vượt xa mục tiêu bảo đảm an ninh lương thực. Đặc biệt, trong ứng phó với BĐKH, chính sách đã không theo kịp thực tiễn cuộc sống. Hiện nay, giá trị của lúa gạo so với thủy sản, cụ thể là tôm quá chênh lệch. Từ thực tế đó, người dân muốn nuôi tôm, trồng cây hoa màu nhiều hơn là trồng lúa. Trong khi đó, việc quy hoạch đất đai, hệ thống hạ tầng của chúng ta chưa hoàn chỉnh, không điều tiết được như mong muốn, gây xung đột trong sản xuất. Việc chuyển đổi mô hình sinh kế này cần sự chủ động của chính quyền địa phương đồng thời phải tuân theo quy hoạch vùng đã được Chính phủ phê duyệt. Bên cạnh chuyển đổi mô hình kinh tế, cần có sự hỗ trợ về chính sách và tài chính từ Chính phủ nhằm bảo đảm thị trường đầu ra cho các sản phẩm theo các mô hình mới của các địa phương.

Cần có sự chuyển dịch từ nông nghiệp sang các ngành nghề ít phụ thuộc vào thời tiết và thiên tai nhằm giữ các lao động nông thôn có được việc làm ngay tại quê hương của họ, hạn chế việc di cư lên thành phố tạo các áp lực lên cơ sở hạ tầng đô thị và phát sinh các xung đột xã hội.

Cùng đó là tăng cường công tác dự báo, cảnh báo thiên tai và thời tiết cực đoan. Đối với một số loại hình thiên tai và thời tiết cực đoan, người dân hoàn toàn có thể chủ động phòng chống và giảm thiệt hại nếu có được thông tin dự báo thời tiết và cảnh báo sớm. Mặc dù công tác dự báo của chúng ta những năm qua đã có những đầu tư lớn về mặt nhân lực và tài chính nhưng vẫn chưa đáp ứng được trong bối cảnh thời tiết và thiên tai diễn biến thất thường. Cần tăng cường đầu tư thiết bị quan trắc, áp dụng công nghệ trong việc đưa tin cảnh báo thiên tai bằng các phần mềm cho các thiết bị di động thay vì đưa tin cảnh báo thiên tai bằng các phương tiện truyền thông truyền thống như truyền hình và phát thanh.

Từ đầu năm 2017 đến nay, Việt Nam đã chịu ảnh hưởng tới 14 cơn bão, nhiều đợt mưa lớn, lũ quét, sạt lở đất, làm 386 người chết và mất tích, thiệt hại 60.000 tỷ đồng (tương đương 2,6 tỷ USD).

TS NGUYỄN NGỌC HUY

Chia sẻ