Từ “bệ đỡ” hậu phương lớn miền Bắc

Thứ Bảy, 27/01/2018, 19:08:22
 Font Size:     |        Print
 

Thanh niên miền Bắc tòng quân. Ảnh tư liệu

Góp phần quan trọng vào những đòn tiến công táo bạo, hiệu quả trên chiến trường, tạo nên bước ngoặt cho cuộc kháng chiến, phải kể đến sự chi viện dốc hết sức người, sức của của hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam.

Giữ vững mạch máu giao thông

Hội nghị Bộ Chính trị (12-1967) và Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 14 (1-1968) hạ quyết tâm động viên toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta nỗ lực vượt qua mọi khó khăn tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân - 1968 trên khắp chiến trường miền Nam nhằm giáng đòn nặng nề vào ý chí xâm lược, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, mở ra bước ngoặt mới cho sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của toàn dân tộc. Trung ương Đảng cũng chỉ rõ: Nhiệm vụ chủ yếu của miền Bắc lúc này là vừa bảo đảm công tác tăng cường hậu phương lớn, vừa đẩy mạnh chi viện chiến trường miền Nam, phục vụ tốt nhất cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy.

Trên cơ sở nắm bắt trước ý định chiến lược của Trung ương Đảng, nên ngay từ giữa năm 1967, Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã tập trung chỉ đạo công tác chi viện cho miền Nam đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới đặt ra.

Trước sự đánh phá quyết liệt của địch, tháng 9-1967, Hội đồng Chính phủ tổ chức hội nghị Phòng không nhân dân trên miền Bắc, đúc rút kinh nghiệm và đề ra các biện pháp giữ vững mạch máu giao thông vận tải chi viện chiến trường. Theo đó, nhiều trung đoàn, tiểu đoàn phòng không được tăng cường về địa bàn Quân khu 4 bảo vệ những mục tiêu đầu mối then chốt, tuyến đường huyết mạch, đồng thời sẵn sàng cơ động vào Nam chiến đấu khi có yêu cầu. Công tác động viên lực lượng tòng quân được phát động sâu rộng, triển khai thực hiện trên quy mô lớn. Năm 1967, có 126,5 nghìn người nhập ngũ. Sang năm 1968 tăng lên 317,5 nghìn người. Đây là lực lượng đông đảo vừa tăng thêm sức mạnh cho quân đội nhân dân làm nhiệm vụ bảo vệ miền Bắc, vừa đáp ứng yêu cầu bổ sung quân số cho các chiến trường. Năm 1967, miền Bắc đưa vào chiến trường miền Nam 94 nghìn cán bộ, chiến sĩ. Năm 1968, con số đó tăng lên 141 nghìn. Chỉ tính từ tháng 3-1967 đến tháng 3-1968, miền Bắc đã đưa vào miền Nam 155 nghìn quân. Nhờ sự bổ sung kịp thời đó, Quân giải phóng miền Nam phát triển nhanh về mặt lực lượng, vừa bảo đảm tiềm lực đánh lâu dài, đồng thời sẵn sàng chớp thời cơ giành thắng lợi quyết định. Đến cuối năm 1967, toàn miền Nam có 220 nghìn bộ đội chủ lực và 57 nghìn bộ đội địa phương.

Dốc toàn lực cho tiền tuyến

Bên cạnh đáp ứng yêu cầu về số lượng, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương còn thường xuyên quan tâm công tác huấn luyện, trang bị kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng bộ đội trước khi đưa vào Nam. Bước vào giai đoạn chiến đấu mới theo ý định chiến lược đề ra, tháng 8-1967, Quân ủy Trung ương mở cuộc vận động nâng cao chất lượng, phát huy sức mạnh chiến đấu, đặc biệt chú trọng hiệu quả tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn. Sau một thời gian huấn luyện, nhiều đơn vị chủ lực (các sư đoàn 304, 308, 320, 312,...) cùng các binh chủng kỹ thuật hiện đại nhất thời điểm đó (pháo dự bị chiến lược của Bộ, tăng thiết giáp...) lần lượt nhận lệnh cơ động vào Nam. Binh chủng Đặc công tuy mới thành lập (3-1967), nhưng cũng kịp thời tăng cường cho các chiến trường 2.563 cán bộ, chiến sĩ, tổ chức thành một tiểu đoàn, 40 đội, bảy khung cán bộ tiểu đoàn, 30 khung cán bộ đội.

Tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn tiếp tục được củng cố, mở rộng, không ngừng vươn xa đến các chiến trường, vươn sâu vào từng mặt trận đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Ngày 5-11-1967, toàn tuyến bước vào kế hoạch vận tải mùa khô 1967-1968, trực tiếp phục vụ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên chiến trường. Thông qua tuyến vận tải trên bộ này, miền Bắc đã đưa vào miền Nam khoảng 30 nghìn tấn vật chất, cao gấp hai lần mùa khô 1966 - 1967. Bên cạnh đó, tuyến chi viện chiến lược bằng đường biển cũng đưa vào Khu 5, Nam Bộ hàng nghìn tấn vật chất - kỹ thuật. Dù phải đối diện với muôn vàn khó khăn, gian khổ, cả những hy sinh to lớn, trong hai năm 1967 - 1968, miền Bắc đã chi viện cho miền Nam tổng số gần 119 nghìn tấn vật chất (vũ khí, lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh,...) và hơn 42 triệu đô-la. Ngoài ra còn vận chuyển vào Nam Bộ hơn 122 nghìn tấn vật chất khác (do các nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ) quá cảnh qua lãnh thổ Cam-pu-chia (cảng Xihanucvin).

Sự chi viện về người và vật chất - kỹ thuật từ hậu phương miền Bắc đã góp phần tăng cường nhanh chóng sức mạnh cho cách mạng miền Nam, tạo ra thế và lực mới để quân dân ta tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Mặt khác, trong quá trình chiến sự diễn ra ác liệt, địa bàn nam Quân khu 4 (miền Bắc) cũng là hậu phương trực tiếp để một số đơn vị giải phóng từ miền Nam (chủ yếu Mặt trận Trị Thiên) rút ra củng cố lực lượng, sau đó tiếp tục bước vào chiến trường chiến đấu.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 của quân và dân ta đã giành thắng lợi vang dội, giáng đòn nặng nề vào ý chí xâm lược, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấp nhận đi vào đàm phán tại Hội nghị Pa-ri. Thắng lợi đó do nhiều nguyên nhân góp phần tạo nên, trong đó sự chi viện sức người và vật chất từ hậu phương miền Bắc tiếp tục đóng vai trò quyết định. Kết quả chi viện to lớn đạt được đó là nhờ vào: Chủ trương, đường lối đúng đắn của Trung ương Đảng; biện pháp triển khai chủ động, sáng tạo của Chính phủ cùng các cơ quan, ban, ngành trung ương và địa phương; tinh thần dũng cảm, ý chí quyết chiến, quyết thắng, kiên cường vượt mọi khó khăn, gian khổ của nhân dân; sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của các nước XHCN.

Hoạt động tổ chức, bảo đảm chi viện chiến trường miền Nam trong quá trình chuẩn bị và tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 cũng để lại cho cách mạng Việt Nam nhiều bài học kinh nghiệm quý báu: vận dụng đúng đắn, sáng tạo tư tưởng chiến lược tiến công, kịp thời nắm bắt, chớp thời cơ giành thắng lợi quyết định; không ngừng củng cố thế trận chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện; phát huy cao độ tinh thần yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng; tăng cường mặt trận dân tộc thống nhất, củng cố sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của bè bạn quốc tế. Những bài học kinh nghiệm này đã được Đảng tiếp tục vận dụng sáng tạo trong các chặng đường cách mạng tiếp theo, đặc biệt là trong cuộc tiến công chiến lược năm 1972, đỉnh cao là trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

TRẦN HỮU HUY

Chia sẻ