Xây dựng cơ chế để khai thác nguồn lực văn hóa

Thứ Bảy, 05/01/2019, 10:33:53
 Font Size:     |        Print

Với một tiềm năng văn hóa dồi dào, Việt Nam có nhiều thế mạnh để chuyển hóa thành sức mạnh mềm văn hóa, tuy nhiên, vấn đề lớn của chúng ta hiện nay, theo phân tích của PGS, TS Nguyễn Thị Thu Phương (Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam), là: chúng ta chưa xây dựng được một cơ chế hiệu quả để thực hiện chiến lược này.

- Chúng ta đã nói nhiều đến nguồn lực văn hóa, và luôn tự hào về một tiềm năng dồi dào các giá trị văn hóa đậm đà bản sắc. Vậy nhưng, sau nhiều năm chuyển động, việc khai thác các nguồn lực đó chưa thật sự mang lại hiệu quả như mong đợi?

- Việc nghiên cứu kinh nghiệm thành công của 10 quốc gia tốp đầu về sức mạnh mềm đã cho thấy, có một mẫu số chung tạo nên sự thành công của quốc gia này là việc chuyển hóa hiệu quả nguồn lực văn hóa thành sức mạnh mềm văn hóa. Các chỉ số trên toàn thế giới cũng cho thấy, các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp trung bình 3% GDP tại nhiều quốc gia.

Việt Nam là một quốc gia giàu tài nguyên, giàu nguồn lực văn hóa, tuy nhiên, chúng ta lại bị giới hạn bởi tiềm lực kinh tế còn yếu, trong khi, ông cha ta từ xưa đã từng nói: có thực mới vực được đạo. Chúng ta đang thiếu thực, nhưng lại muốn vực được đạo. Đây quả thực là bài toán khó, nhưng nếu giải được chắc chắn chúng ta sẽ tạo ra một sự thay đổi hiệu quả. Theo quan điểm của cá nhân tôi, trong quá trình đi tìm lời giải cho bài toán này, chúng ta dường như đang có quá nhiều sự lựa chọn, và vì nhiều lý do, trong đó có thói quen, nếp nghĩ, quan niệm từ lâu vốn coi văn hóa như một hình thái ý thức chứ không phải là một sản phẩm, một dịch vụ và cao hơn là ngành kinh tế đã khiến cho việc phát triển, chuyển hóa nguồn lực văn hóa chưa được coi là lựa chọn tiên quyết.

Còn có một điều chúng ta phải xác định là, nguồn lực văn hóa đó không phải là sức mạnh mềm văn hóa, nó chỉ trở thành sức mạnh mềm văn hóa khi nó được chuyển hóa thành công thông qua các kênh truyền dẫn, và chúng ta không thể ôm tất cả các nguồn lực văn hóa đó nhồi vào các kênh này để tạo thành đầu ra. Nghĩa là, chúng ta phải lựa chọn. Nhưng lựa chọn như thế nào? Đây là điều rất khó. Tại cuộc hội thảo quốc tế đầu tiên tại Việt Nam về “Sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế” do Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam phối hợp Văn phòng UNESCO tại Hà Nội tổ chức ngày 12-12-2018, đại diện các cơ quan liên quan và nhiều chuyên gia quốc tế đã đồng thuận với nhận định của nhóm nghiên cứu chúng tôi: Việt Nam là một quốc gia giàu nguồn lực văn hóa, nhưng do chưa đủ tiềm lực kinh tế nên nếu chúng ta muốn phát huy sức mạnh mềm văn hóa của mình cần phải tính toán, lựa chọn một hướng đi phù hợp. Nghĩa là, chúng ta cần phải tạo ra được một cơ chế chuyển hóa các nguồn lực mềm văn hóa Việt Nam thành sức mạnh mềm văn hóa thông qua sự vận hành có hệ thống, có sự gắn kết, linh hoạt giữa các kênh tác động như ngoại giao văn hóa, công nghiệp văn hóa và truyền thông.

- Như vậy, theo những gì chị vừa phân tích, có thể khẳng định: Việt Nam có rất nhiều nguồn lực văn hóa, nhưng chúng ta chưa xây dựng được một cơ chế hiệu quả để chuyển đổi các nguồn lực đó thành sức mạnh mềm văn hóa?

- Đúng vậy, chúng ta chưa có một cơ chế để phối hợp chuyển đổi hiệu quả nguồn lực đó. Và chúng ta cần có một người cầm trịch, một người hiểu rõ cuộc chơi ấy phải như thế nào. Tôi có liên tưởng là, nguồn lực văn hóa của Việt Nam hiện nay cũng giống như hiện trạng của bóng đá Việt Nam hơn 10 năm trước. Có nghĩa là nguồn lực nhiều, cầu thủ khéo về kỹ thuật, nhưng chúng ta rời rạc, không có tính liên kết, thiếu một người ươm mầm về mặt tài năng, thay đổi về mặt nhận thức, thúc đẩy sự gắn kết. Thành công của bóng đá Việt Nam hôm nay là một chặng đường dài với sự liên kết, phối hợp, chuyển hóa thành công nhiều nguồn lực. Trong câu chuyện về chuyển hóa nguồn lực mềm văn hóa thành sức mạnh mềm văn hóa. Người làm nghiên cứu về nguồn lực văn hóa cần phải đưa ra các ý tưởng, tư vấn về chính sách một cách thiết thực. Nhưng để tạo được cú huých trong chuyển đổi các nguồn lực văn hóa thành sức mạnh mềm văn hóa thì chúng ta cần phải có những nhà hoạch định chính sách có khả năng lựa chọn các nguồn lực trọng tâm, xây dựng chiến lược ngắn, trung, dài hạn có khả năng liên kết các bộ, ngành, giải quyết điểm mạnh, điểm yếu của từng kênh truyền tải để có thể làm chuyển hóa thành công các nguồn lực. Và đó là một quá trình dài, bền bỉ, kiên trì, không bỏ cuộc, sẵn sàng chịu va đập và khi thành công, đó là sức mạnh của một khối thống nhất chứ không phải thuộc về riêng ai.

- Chị vừa nói đến chuyện bóng đá. Hàn Quốc cũng là một quốc gia điển hình về việc phát triển sức mạnh mềm văn hóa thành sức mạnh mềm quốc gia. Chúng ta cũng đã nói nhiều đến việc học tập chiến lược phát triển văn hóa của Hàn Quốc, nhưng việc chuyển hóa từ kinh nghiệm nước bạn thành cơ chế của nước mình thì vẫn còn khá chậm?

- Đó là câu chuyện có thật. Chúng ta đã ý thức được là cần phải học hỏi Hàn Quốc trong việc lựa chọn nguồn lực văn hóa để chuyển thành sức mạnh mềm văn hóa, tuy nhiên, ý thức đó chưa đủ chiều sâu, hoặc là vì chúng ta chưa bị đẩy vào đến chân tường để buộc phải hành động.

Các nghiên cứu đã cho thấy, một trong các bộ văn hóa hiệu quả nhất trên thế giới chính là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hàn Quốc, và trong Bộ ấy, một trong những cơ quan đầu mối tạo ra cú huých về phát triển cho các ngành công nghiệp văn hóa của Hàn Quốc chính là Cục Công nghiệp văn hóa. Cơ quan đó đã trở thành đầu mối kết nối các doanh nghiệp, các nghệ sĩ, các vấn đề liên quan đến bản quyền.

Nếu chúng ta muốn coi các ngành công nghiệp văn hóa là trọng điểm phát triển thì cần phải học hỏi Hàn Quốc về mô hình hoạt động này. Tôi nghĩ rằng trong điều kiện chúng ta còn bối rối trong việc chọn lựa nguồn lực văn hóa để phát triển thì nên chăng cần thành lập Cục này, có như vậy sẽ hiệu quả hơn.

- Trong những năm gần đây, chúng ta đã gặt hái nhiều thành công với chiến lược khai thác các giá trị di sản văn hóa phục vụ phát triển du lịch?

- Đúng vậy. Việt Nam là một trong số ít các quốc gia hệ thống di sản tầm dày đặc trên bản đồ di sản thế giới. Trên bản đồ quyền lực mềm, điểu đó được đánh giá cao. Các chuyên gia về di sản đã nói về di sản như một sức mạnh mềm văn hóa. Và đó là một lựa chọn chính xác. Nhưng, tôi cho rằng chúng ta đang khai thác và tạo ra một sự tăng trưởng nóng hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể. Việc khai thác di sản phải được nhìn nhận từ hai góc độ: vừa khai thác được, vừa bảo tồn được, tạo ra sức sống cho nó và giữ được bản sắc đó thì mới thật sự là sức mạnh mềm văn hóa. Hiện tại, chúng ta làm chưa tốt. Có thể xem xét trường hợp Hạ Long. Hạ Long có cả phần vật thể hiện hữu và phần hồn - chính là các làng chài. Chính quyền đã đầu tư hơn 190 tỷ đồng để di dời làng chài lên bờ, để giữ vệ sinh môi trường và tạo sinh kế mới. Nhưng, nhiều người cho rằng, với hơn 190 tỷ đồng đó, lẽ ra nên đầu tư hệ thống cảnh báo bão biển, làm hệ thống xử lý rác thải trên biển, đầu tư cho việc thay đổi nhận thức của người dân, thì chúng ta sẽ vẫn bảo tồn được phần hồn của Hạ Long, và làng chài đó sẽ trở thành một trong những làng chài đẹp nhất và cổ xưa nhất trên thế giới, sẽ là điểm đến hấp dẫn của du lịch.

Cần phải khẳng định, lựa chọn khai thác di sản để phục vụ du lịch là một lựa chọn đúng. Tuy nhiên, để khai thác hiệu quả mà không làm mất hồn di sản, một mặt phải bảo tồn được di sản theo đúng chuẩn truyền thống, đồng thời phải tính toán nhu cầu du khách để xây dựng một hệ thống dịch vụ đồng bộ.

Chỉ nhìn nhận một câu chuyện như vậy thôi, đã cho thấy cần sự vào cuộc của rất nhiều ngành. Trong khi, đó lại là khâu đang yếu của chúng ta.

- Tại cuộc hội thảo quốc tế do VICAS tổ chức, nhóm nghiên cứu đã nhắc đến việc lựa chọn thí điểm xây dựng cơ chế chuyển đổi nguồn lực văn hóa thành sức mạnh mềm văn hóa, với đề xuất là Hà Nội?

Các chuyên gia quốc tế đã nhận định: Ở Việt Nam đang quá thiếu cơ quan chuyên trách để triển khai các ngành công nghiệp văn hóa, thiếu đội ngũ về các ngành công nghiệp văn hóa. Thiếu và yếu.

- Hai năm trước, tôi chính là người đưa ra ý tưởng trong một hội thảo với Ban Tuyên giáo thành phố Hà Nội: hãy đưa Hà Nội trở thành một thành phố công nghiệp văn hóa, thành phố sáng tạo văn hóa, không gian sáng tạo văn hóa… vì Hà Nội hội tụ đầy đủ các yếu tố về mặt tiêu chuẩn: cơ sở hạ tầng, sức hấp dẫn của thành phố, tầng lớp trung lưu, nhu cầu tiêu thụ về văn hóa, các dịch vụ văn hóa và Hà Nội là nơi hội tụ Đông - Tây. Hà Nội cũng là địa phương đầu tiên triển khai Chiến lược xây dựng các ngành công nghiệp văn hóa. Người Hà Nội vốn sở hữu khả năng sáng tạo rất lớn, khi cảm thấy được tôn trọng thì họ sẽ thể hiện năng lực. Hà Nội lại là nơi tập trung các cơ quan trung ương, là nơi hội tụ giới chuyên gia trong và ngoài nước.

Khi chúng tôi tổ chức hội thảo này, các chuyên gia của Văn phòng UNESCO tại Hà Nội có gợi ý rằng: có nên cho một hợp phần về thương hiệu thành phố không? Văn phòng UNESCO tại Hà Nội đã nghiên cứu rất sâu và bài bản về việc đưa Hà Nội vào mạng lưới các thành phố sáng tạo của UNESCO. Đây là một sự gặp gỡ về ý tưởng và chúng tôi cũng như các chuyên gia UNESCO rất tâm huyết với điều này. Sẽ có các bước tiếp theo để UNESCO hiện thực hóa ý tưởng đưa Hà Nội trở thành thủ đô sáng tạo trong hệ thống do UNESCO khởi xướng và VICAS sẽ là một trong những cơ quan nghiên cứu đồng phối hợp. Điều quan trọng là làm sao để tìm được tiếng nói chung giữa thành phố với các chuyên gia nghiên cứu trong và ngoài nước, với UNESCO và nhất là với các doanh nghiệp.

- Xin cảm ơn chị.

LUÂN VŨ (Thực hiện)