Góp ý về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992
Vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam là hợp lòng dân, hợp hiến, hợp pháp
Thứ sáu, 12/04/2013 - 09:00 AM (GMT+7)
[+] Cỡ chữ: Mặc định
Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức Hội nghị Cán bộ lão thành của Ðảng, Nhà nước góp ý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992.

Với những thắng lợi giành được trong hơn 83 năm qua dưới sự lãnh đạo của Ðảng, nước ta từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một nước độc lập, tự do, phát triển theo con đường XHCN; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, đất nước ta đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, thế và lực của đất nước không ngừng được nâng cao, quan hệ quốc tế không ngừng được mở rộng. Những thành tựu trên đây không thể có được nếu không có sự lãnh đạo của Ðảng.

Vai trò lãnh đạo của Ðảng là phù hợp với chế độ chính trị và quy luật phát triển đất nước Việt Nam

Hiến pháp năm 1992 đã xác định chế độ chính trị của nước ta là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Chế độ ta là chế độ XHCN. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) của Ðảng đã khẳng định: "Ði lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Ðảng Cộng sản Việt Nam (ÐCSVN) và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử" (1). Ðảng Cộng sản Việt Nam  là lực lượng đại diện cho con đường XHCN - con đường hợp với quy luật phát triển khách quan của đất nước do lịch sử và nhân dân đã lựa chọn, chỉ có ÐCS lãnh đạo mới thực hiện được con đường XHCN thực hiện được ý nguyện của nhân dân. Chế độ XHCN  và con đường XHCN, vì vậy, tất yếu phải do ÐCS lãnh đạo mà không có một lực lượng nào có thể thay thế được. Ðây là sự thống nhất giữa xu thế khách quan của sự phát triển đất nước với nguyện vọng của nhân dân, của toàn xã hội. Chỉ có đi theo con đường XHCN do ÐCS lãnh đạo thì mới thực hiện được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Ngày nay trên thế giới, Hiến pháp của nhiều nước đều quy định về đảng chính trị. Ðảng cầm quyền đã trở thành một khái niệm chính trị - pháp lý quốc tế. Ðảng cầm quyền có thể là một đảng hoặc liên minh nhiều đảng nhưng có một đảng chi phối tùy thuộc vào tương quan lực lượng giữa các đảng, vào kết quả bầu cử, vào điều kiện lịch sử cụ thể của mỗi nước. Chế độ đa đảng hay một đảng lãnh đạo đều có mặt ưu và nhược do điều kiện cụ thể mỗi nước, mỗi giai đoạn lịch sử quy định. Vấn đề là ở chỗ bản chất của đảng cầm quyền đó như thế nào, nó phục vụ cho giai cấp, tầng lớp xã hội nào. Thực tế các nước trên thế giới đã cho thấy không phải cứ một đảng thì đất nước không phát triển được hoặc đa đảng thì mới phát triển được. Có nước một đảng lãnh đạo (như Trung Quốc) nhưng phát triển rất nhanh, mạnh trong suốt hơn 30 năm qua, trong khi đó nhiều nước phương Tây theo chế độ đa đảng lại lâm vào khủng hoảng tài chính - kinh tế, khủng hoảng nợ công kéo dài, kinh tế trì trệ, suy thoái, có nước phải hơn một năm mới lập được Chính phủ mới.

Ở Việt Nam, sau Cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên Nhà nước VNDCCH, ÐCSVN trở thành Ðảng cầm quyền. Lúc đó ngoài Ðảng Cộng sản Việt Nam, còn có hai đảng đối lập là Việt quốc và Việt cách. Lúc đó vai trò lãnh đạo của Ðảng đối với Nhà nước được thực hiện thông qua vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các cán bộ, đảng viên hoạt động trong bộ máy nhà nước và chính quyền các cấp. Ðến cuối năm 1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ðảng ta di chuyển lên Việt Bắc để lập căn cứ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Còn hai đảng kia bỏ chạy ra nước ngoài theo gót chân của ngoại bang. Như vậy thời kỳ đa đảng đối lập ở nước ta chỉ tồn tại trong thời gian rất ngắn. Sau này có một thời kỳ, ngoài ÐCS, trong hệ thống chính trị nước ta còn có Ðảng Dân chủ và Ðảng Xã hội. Cả hai Ðảng này đều tự nguyện chịu sự lãnh đạo của ÐCSVN, đi theo đường lối của ÐCSVN. Ðến năm 1988 các Ðảng này đều tuyên bố tự giải tán. Từ đó đến nay trong hệ thống chính trị nước ta, ÐCSVN là đảng duy nhất, độc quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội, là đảng duy nhất cầm quyền, chịu trách nhiệm trước lịch sử và dân tộc. Ðảng Cộng sản Việt Nam đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội đi vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, vững bước trên con đường độc lập dân tộc và CNXH.

Như vậy chế độ một đảng lãnh đạo, cầm quyền là ÐCSVN đã được thực tiễn lịch sử quy định, nhân dân lựa chọn. Ở Việt Nam không có cơ sở khách quan để hình thành chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, không một lực lượng nào, đảng phái nào, ngoài ÐCSVN có thể lãnh đạo dân tộc trên con đường đổi mới và phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Trong điều kiện một Ðảng duy nhất lãnh đạo, cầm quyền, Ðảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực lãnh đạo và năng lực cầm quyền. Ðảng phải thực hành dân chủ rộng rãi trong Ðảng và ngoài xã hội, giữ vững đoàn kết, tăng cường kỷ luật, kỷ cương. Thường xuyên tự phê bình và phê bình, đấu tranh chống những nguy cơ đối với một Ðảng cầm quyền là nguy cơ sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu, xa dân, tham nhũng, sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên.

Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với Nhà nước là nhân tố quyết định sự hoạt động, bản chất cách mạng và sức mạnh của Nhà nước. Ðảng lãnh đạo Nhà nước nhưng không bao biện, làm thay công việc Nhà nước. Ðảng lãnh đạo phải làm sao phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của Nhà nước. Tính hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước là thể hiện sức mạnh, năng lực lãnh đạo, hiệu quả lãnh đạo của Ðảng. Vì vậy, phải tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Ðảng đối với Nhà nước, xác định rõ thẩm quyền và trách nhiệm giữa Ðảng và Nhà nước, thể chế hóa vai trò lãnh đạo và vị trí cầm quyền của Ðảng, tránh chồng chéo giữa chức năng lãnh đạo của Ðảng với chức năng quản lý của Nhà nước.

Tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của ÐCSVN qua sửa đổi Hiến pháp 1992

Kế thừa Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của ÐCSVN đối với Nhà nước và xã hội. Ðiều 4 của Dự thảo là khẳng định cơ sở pháp lý, là sự Hiến định về vai trò lãnh đạo và vị trí cầm quyền của ÐCSVN. Ðây là điều cực kỳ quan trọng của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Sau khi Hiến pháp 2013 được thông qua, Ðiều 4 của Hiến pháp - đạo luật gốc, văn kiện chính trị - pháp lý quan trọng nhất của Nhà nước ta, sẽ là chỗ dựa pháp lý cho sự tồn tại, hoạt động, lãnh đạo, cầm quyền của Ðảng Cộng sản Việt Nam.

Các thế lực thù địch trong âm mưu và hoạt động "diễn biến hòa bình" chống phá cách mạng nước ta đều muốn phủ nhận vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam, nhằm đưa nước ta đi chệch con đường xã hội chủ nghĩa, thủ tiêu thành quả cách mạng mà nhân dân ta đã phải hy sinh biết bao xương máu mới giành được. Vì vậy kiên định với vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam là thể hiện lập trường chính trị, bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên.

Ðiều 4 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 so với Hiến pháp 1992 đã có một số đổi mới, bổ sung quan trọng:

- Thể hiện đầy đủ hơn bản chất của Ðảng theo tinh thần Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011).

- Thể hiện rõ hơn trách nhiệm của Ðảng đối với nhân dân, dân tộc.

- Thể hiện rõ hơn, đầy đủ hơn trách nhiệm của nhân dân đối với Ðảng và đối với việc xây dựng Ðảng.

- Thể hiện đầy đủ hơn yêu cầu của Nhà nước pháp quyền là các tổ chức của đảng và đảng viên (không chỉ là "tổ chức của đảng" như Hiến pháp 1992 quy định) phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Tuy nhiên cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện về nội dung và hình thức diễn đạt của Ðiều 4 cho phù hợp hơn. Ngoài những nội dung hợp lý đã có trong Dự thảo sửa đổi, cần:

- Bổ sung thuật ngữ "Ðảng cầm quyền" vì đây là thuật ngữ chính trị - pháp lý đã được thế giới thừa nhận: "Ðảng Cộng sản Việt Nam là Ðảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội".

- Nói rõ: Ðảng chịu trách nhiệm trước nhân dân, dân tộc (không chỉ chịu trách nhiệm về những quyết định của mình như trong Dự thảo, như vậy sẽ bị hẹp).

- Có thể bổ sung về phương thức lãnh đạo của Ðảng (theo tinh thần Cương lĩnh năm 2011) để cho thấy rõ Ðảng lãnh đạo bằng phương thức dân chủ, khoa học, không áp đặt.

- Dùng từ "mọi" thay cho từ "các": "Mọi tổ chức của đảng và đảng viên phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật".

Việc quy định vai trò lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam trong Hiến pháp và pháp luật là cực kỳ quan trọng. Tuy nhiên để xứng đáng là Ðảng cầm quyền, là người lãnh đạo Nhà nước và xã hội, điều quan trọng hơn là Ðảng phải đẩy mạnh tự đổi mới, tự chỉnh đốn, xây dựng Ðảng trong sạch, vững mạnh, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Ðảng, thể hiện Ðảng "là đạo đức, là văn minh", thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Ðảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Ðảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân" (1).

....................................

(1) Văn kiện Ðại hội XI, Nxb CTQG, HN; 2011, tr.70.

(1) Hồ Chí Minh. Toàn tập, Nxb CTQG, HN; 2002, t.12, tr.510.

GS, TS LÊ HỮU NGHĨA
(Hội đồng Lý luận Trung ương)