Lên non tìm giọt chuông vàng

Thứ Bảy, 06/10/2018, 15:25:38
 Font Size:     |        Print
 

Lên tới núi Cấm, trời trở chiều mịt mùng. Gió bấy giờ thổi lồng lộng, xuyên qua rừng cây, kéo theo những làn hoa mỏng mảnh và chút se se lạnh lên mặt hồ, lên gương mặt chúng tôi bụi bặm một hành trình. Thi thoảng một cơn mưa to đổ ập xuống Cấm sơn, rồi tất cả mù mịt đi trong chốc lát, tựa sát - na của một hơi thở khôn khuây, trăn trở.

Ở núi Cấm, tôi nghe cư dân bản địa gọi các đỉnh cao thấp khác nhau là vồ. Mỗi tên vồ đều gắn liền với một truyền thuyết và mang nhiều ý nghĩa kỳ thú như vồ Thiên Tuế, vồ Bồ Hong, vồ Ông Bướm, vồ Đầu, vồ Bà… Đó là năm vồ hay năm non, trên mỗi vồ đều có các công trình tôn giáo như chùa, miếu, điện khách hành hương thường hay đến để chiêm bái.

Chúng tôi lên vồ Bồ Hong, nơi có những thất tu kín, ẩn khuất giữa rừng cây rậm rạp. Vồ Bồ Hong là đỉnh cao nhất, tới 705 m. Tương truyền, khi xưa có nhiều con côn trùng gọi là bồ hong đến đây sinh sống nên người dân đặt tên như thế. Từ đỉnh Bồ Hong, có thể bao quát tầm mắt hết vùng Cấm sơn, thấy đồng bằng, kênh rạch chằng chịt và những hàng thốt nốt như những vệ binh canh giữ hiên ngang trên đồng lúa vàng ngút mắt.

Chúng tôi đi bộ trên con đường đúc bê-tông, rải nhựa lên tận đỉnh Bồ Hong và ghé thất của cô Tám Mai. Cô là bạn vong niên của chị Võ Diệu Thanh, có một cuộc đời rất đáng để viết nên một trang giai thoại núi Cấm. Thất là một căn nhà nhỏ dựng tạm bằng tôn, gỗ tạp, tre... Đứng bên hiên nhà nhìn về phía hồ Thủy Liêm, mây bay là đà tựa những chiếc thuyền mộng trôi qua núi. Cô Tám Mai quê ở Đồng Tháp, từ năm 19 tuổi đã theo học đạo, trải qua một quá trình tu học ở chùa chiền, tịnh thất. Cách đây 7 năm trong một lần lên núi Cấm công chuyện đã bén duyên nơi đây, để rồi trải qua mấy mùa mưa nắng sương mây trên vồ Bồ Hong linh thiêng. Gian khổ nhất là việc cất nhà trên núi Cấm, trải qua 7 năm tu tập, cũng chừng ấy thời gian cô Tám Mai mới dựng xong được nhà.

Tôi ngồi trên sàn gỗ nhìn mung lung ra bên ngoài. Trời về đêm lành lạnh, câu chuyện của chúng tôi cứ kéo dài ra mãi bên ấm trà nóng. Sự đồng điệu của tâm thức khi tôi và cô Tám Mai đều rất thích cảm giác sống trong bầu không khí của núi. “Trên núi yên tĩnh, nơi đây là cõi tịch cư của những người như chị, tìm thanh tịnh và tự tại giữa cuộc nhân sinh”, cô Tám Mai chia sẻ với tôi về lý do mình tìm lên đây. Cô gọi tôi là Đệ, như gọi một đồng đạo thân ái khiến câu chuyện thêm cởi mở, thân tình. “Phải biết thắc mắc rằng tại sao chúng ta được sinh ra ở đây, sống để làm gì và chết đi về đâu?”, đó là câu hỏi bản nguyên của chân lý. Trả lời được những câu hỏi này đồng nghĩa với sự học tập, cầu đạo, tu thân, lìa xa cõi khổ trần ai.

Trời đã tối, sương mù buông xuống dày hơn. Đêm ấy, mưa to quá, chúng tôi xin ở lại trong thất, giấu mình trong chăn nghe tiếng kinh xa gần, tiếng gió hú trên đỉnh cô phong đi vào giấc ngủ. Sớm ra, chúng tôi lang thang quanh thất cô Tám Mai. Bấy giờ mây từ đâu tới tấp sà xuống, khắp nơi trắng xóa một màu. Khi mây tản, một khoảng vồ Bồ Hong lộ ra với hàng mấy chục thất tu trên cao, trong rừng tre Mạnh Tông giữa núi non và tiếng chim lảnh lót chào ngày. Không gian trở nên sâu hun hút lạ thường và khi ngồi thưởng trà bên hiên vắng, hồn chúng tôi như lạc trôi trong chốn mộng an lành.



Những di vật gợi nhắc hồi ức bi thảm ở Nhà mồ Ba Chúc.


Giã từ ngọn Cấm Sơn linh thiêng, tâm hồn tôi như vừa được tắm trong cơn mưa thanh tịnh. Tôi vấn vương hơi thở núi Cấm, mang về đồng bằng, ngọt bùi thốt nốt, óng vàng đồng lúa đương mùa gặt.

Nhưng rồi tất cả phải lặng yên trong một hồi ức bi thảm khác khi tôi viếng nhà mồ Ba Chúc. Nơi đây, chỉ trong vòng 11 ngày (từ 18-4-1978 đến ngày 29-4-1978), bọn diệt chủng Pôn Pốt đã xua quân xâm lược và sát hại dã man 3.157 thường dân. Cuộc thảm sát đã xóa sổ hoàn toàn ba tộc họ có quy mô lớn ở Ba Chúc. Tham quan phòng truyền thống của Sư đoàn bộ binh 330, chúng tôi đọc được Nghị quyết quân khu Đông đậm tính hiếu chiến và tàn bạo của quân Pôn Pốt: “Chúng ta không những tấn công một nơi mà nhiều nơi trên đất họ. Phải chặn đứng và tiêu diệt nhiều Việt Nam ngay trên đất Việt Nam”. Vì thế, cuộc thảm sát kinh hoàng ở Ba Chúc là hành động có kế hoạch của một chế độ diệt chủng ác ôn.

Tôi đứng lặng trước nhà mồ chứa 1.159 bộ hài cốt thu nhặt lại được trong số 3.157 đồng bào bị thảm sát. Những bộ xương được xếp chồng chất lên nhau trong nhà mồ, xương người này lẫn xương người kia, không phân biệt được danh tính. 1.159 tuổi tên trở thành vết chìm của ký ức. 1.159 mảnh đời xót xa dưới bàn tay lũ sát nhân cuồng loạn. 1.159 nỗi đau quặn thắt, gióng lên hồi chuông của lương tri con người. Tôi ngây người đứng trân giữa những hài cốt đồng bào. Thắp hương, quỳ lạy vong linh những người đã khuất, chạm đầu xuống mảnh đất máu thấm đồng xanh. Ai oán thay một trang bi thương, khổ đau của lịch sử.

Trong ký ức của những người đã phải trải qua thời khắc bi thương của lịch sử đó, sau khi đánh bật quân xâm lược qua bên kia biên giới, cảnh tượng Ba Chúc thê lương không gì tả xiết. Khắp nơi là xác đồng bào, già trẻ lớn bé chất chồng lên nhau. Cuộc thảm sát của bọn ác ôn Pôn Pốt diễn ra trên cánh đồng, trong chùa Phi Lai, trong hang động, nhà cửa, vườn tược, đâu đâu cũng nhuốm máu dân lành. Ngày ấy, bộ đội và dân chúng phải gom xác, đốt xác để lấy xương, cuốc đất tìm xương, xương dưới sông, xương trên đồng, xương trong bụi rậm, trong nhà đổ nát, trong chùa linh thiêng.

Trong nhà mồ, tôi lần theo từng ô kính chứa hài cốt đồng bào, nhiều hộp sọ bị nứt chân chim, lún, hổng, vỡ nham nhở, mất xương, mất góc…Anh Trịnh Bửu Hoài cho tôi biết người đó chết vì bị bắn, bị đánh, bị quăng lựu đạn. Trong các hung khí giết người man rợ của bầy lang sói Pôn Pốt, tôi tận mắt thấy chiếc dùi bằng gỗ mun đã đập nát bao nhiêu sọ người. Cây gậy gỗ mun được tiện cầu kỳ, nằm im lìm trong tủ kính với dòng chữ: “Dùi: bọn Pol Pot dùng đập đầu tàn sát nhân dân Ba Chúc năm 1978”. Quân Pôn Pốt được trang bị loại dùi bằng thứ gỗ cứng như thép, nặng như thép, dai như thép, lực đập kinh hồn từ vồ kết liễu một sinh mạng chỉ bằng một phát đập. Tên nào càng lấy nhiều mạng người càng được tôn trọng. Hơn 2 triệu người dân Cam-pu-chia vô tội đã chết dưới những chiếc dùi mun. Quân tàn ác Pôn Pốt còn sử dụng khúc tầm vông chỉ bằng cổ tay người lớn, dài cỡ 1 m gây ra cái chết cho nhiều em nhỏ và đau đớn nhất là những người phụ nữ bị chúng thọc vào chỗ kín xuyên tận lên đến cổ. Quân dã man cưỡng hiếp phụ nữ bên đống xác người rồi ra tay ác độc. Những tấm ảnh thực chứng, nhà mồ chứa đầy xương… Ba Chúc, một hố sâu thăm thẳm của ký ức mịt mù, là bức tranh ai oán của cái gọi là chiến tranh, thù hận.

Tôi bị ám ảnh rất nhiều những điều về chiến tranh, những vết thương sâu của gia đình, dòng tộc, quê hương, của lịch sử dân tộc và nhân loại. Chiến tranh đã để lại những nỗi đau khôn nguôi theo năm tháng, những vết thương lòng, những cảnh ngộ vĩnh biệt, chia ly. Làm sao đong đếm cho hết bao nhiêu nước mắt của cha ông chúng ta cho những mất mát đó.

Từ ngọn Cấm Sơn linh thiêng đến hố thẳm thảm sát Ba Chúc, tôi vừa tắm gội trong thanh tịnh, vừa bơi trong dòng tanh ác quỷ. Hai mặt nhị nguyên tương phản của nhân sinh, thiện và ác, Phật và ma, cái đẹp và sự tàn phá cái đẹp, song trùng tồn tại để trưng dẫn cho chúng ta sự thẳm sâu của nhân sinh đầy biến động. Tôi đã nếm trải sự lãng mạn bi thảm qua một hành trình về đất biên viễn An Giang.

Lê Vũ Trường Giang

Chia sẻ