Tường trình từ A Mú Sung

Thứ Ba, 16/08/2016, 04:28:51
 Font Size:     |        Print
 

Theo hành trình ngược khúc sông Hồng phân chia biên giới Việt Nam - Trung Quốc ở Lào Cai chúng tôi đến với những người lính biên phòng đồn A Mú Sung, điểm cực bắc của huyện Bát Xát đúng vào dịp kỷ niệm Ngày Thương binh Liệt sĩ. Cỏ hoa biên giới như cũng rưng rưng tưởng nhớ các anh. Nhắc đến máu xương, chúng ta không dễ nguôi ngoai khi người chiến sĩ biên phòng và nhân dân đã hy sinh rất nhiều trong cuộc chiến tranh biên giới năm 1979. Chỉ riêng ở đồn A Mú Sung, nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt thân thương đêm 18 tháng 2 định mệnh ấy toàn đồn 24 cán bộ chiến sĩ đã anh dũng chiến đấu và hi sinh vì Tổ quốc. Các nhà văn đã không cầm được nước mắt trước tấm bia khắc những dòng chữ tuổi tên các anh. Có người còn chưa đầy hai mươi tuổi. Các anh, mỗi người đã là một cột mốc trong trái tim người đang sống chúng ta.

Tôi từng nhiều lần lên đồn A Mú Sung, lần nào cũng để lại những ấn tượng rất mạnh về sự hy sinh của người chiến sĩ biên phòng. Ngẫm nghĩ về nó để thấy được sự hòa bình nơi biên cương là hết sức cần thiết, thậm chí quyết định tới vận mệnh lâu dài của mỗi quốc gia. Dân tộc ta chiến tranh dằng dặc nên mỗi người dân đều luôn tha thiết yêu chuộng và mong muốn hòa bình. Tưởng nhớ người đã hy sinh, cách tốt nhất chúng ta hãy làm mọi việc để có hòa bình bền vững, để không uổng máu xương những người lính đã hy sinh.

Ngay trong thời bình, người lính biên phòng vẫn hy sinh. Bom mìn chực chờ nơi khuất lấp. Núi cao vực thẳm, thiên tai, bão lốc, lũ quét, bệnh tật, tội phạm nơi biên viễn luôn trực diện với người chiến sĩ biên phòng. Cũng ở đồn A Mú Sung, nhiều năm sau, vào các năm 1984, 1985, 1994, vẫn có người lính ngã xuống.

Ngay cách đồn vài cây số, cột cờ Lũng Pô đang được xây dựng, mới thấy sức chịu đựng gian khổ của chiến sĩ biên phòng đúng là vô địch. Mới thấy câu thơ ai đó viết: Dưới bóng vàng sao nơi biên giới/ Đá cũng là dân đất nước tôi/ Đêm xuống sương bò ra mặt đá/ Đá cũng như người toát mồ hôi sao mà đúng quá. Các đồng chí Thượng úy Đào Văn Ninh, Trung úy Trần Quang Thiết trực ở trạm Lũng Pô cho biết bây giờ trạm vẫn thiếu nước sạch vì đang mùa vụ của bà con. Phải nhường bà con lấy nước trước sau mới đến bộ đội. Thiếu tá Lý Sín Sẩu, người từng nhiều năm ở nơi chốt trạm đồn A Mú Sung kể chuyện có đồng chí Vàng Dùng Thưởng từng cùng ở với anh nơi biên giới lâu quá không gặp người nên bây giờ vô cùng ít nói. Khi về nơi đông đúc, cả ngày chỉ nói một hai câu. Biết là đồng đội bị ảnh hưởng môi trường rừng núi nhưng chưa biết cách gì chữa được. Đó cũng là sự thiệt thòi của gia đình người lính biên phòng.

Đại úy Tạ Văn Tuân, đồn trưởng đồn A Mú Sung trẻ trung, nhẹ nhàng nhưng sâu sắc và rất sâu sát nhiệm vụ. Tuân bảo ở đồn A Mú Sung mọi cái đều tự túc được. Từ các loại rau sạch, cá sạch, lợn sạch luôn đáp ứng tốt nhu cầu cho bộ đội. Đi thăm đàn lợn rừng vài trăm con đủ mọi thế hệ mới thấy sự tài tình của bộ đội biên phòng. Những nái sề nặng trên một tạ sáu bảy tháng lại tuyệt tích cả tháng ròng thình lình dẫn đàn con hơn chục khụt khịt về với bộ đội. Vừa tự sinh vừa tự kiếm ăn mà không bệnh tật gì kể cũng lạ. Đồn đang phát triển đàn bò ngót trăm con cũng là một hình mẫu tiêu biểu nơi biên giới. Trò chuyện với Tạ Văn Tuân càng thấy thêm sự tài tình, khéo léo của anh em biên phòng, đặc biệt là sự gần dân, gắn bó với nhân dân nơi vùng biên giới. Người dân thuộc khu vực đồn A Mú Sung quản lý gồm năm dân tộc Mông, Dao, Tày, Nùng, Kinh với tập quán canh tác nương rẫy và khai thác các sản vật từ rừng là chính. Thời kỳ xảy ra chiến tranh biên giới, dân ly tán hết, có khi đi cả ngày đường không gặp nóc nhà nào. Bom mìn còn sót lại cũng nhiều và đặc biệt là không có nước sạch. Thiếu nước sạch ngay ngã ba nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt thoạt nghe như chuyện bịa. Nhưng để xuống sông gánh được nước lên dùng có khi phải đổ ngần ấy mồ hôi. Thiếu tá Lý Sín Sẩu bảo năm 2001 khi công tác ở đây tiền lương chỉ đủ để đi xe ôm hai lần xuống Lào Cai thăm mẹ ốm. Đi từ sáng đến trưa mới được già nửa đường, anh lính biên phòng và bác xe ôm mở cơm nắm ra ăn uống tạm bi đông nước cây rừng đi tiếp đến tối mịt mới lên được đồn. Ngày nghỉ đi xuống thị trấn mua mấy thứ lặt vặt ăn xong bát phở sáng đã quá 12 giờ cuốc bộ về đồn là vừa xẩm tối.

Bây giờ điện, đường, trường, trạm đã lên tới tận cột mốc Lũng Pô. Cột mốc đang vào giai đoạn hoàn thành. Lá cờ cột mốc Lũng Pô sẽ phần phật tung bay nơi vùng biên ải nghìn năm thấm máu người Lạc Việt. Có người chiến sĩ biên phòng đã sinh cơ lập nghiệp đưa vợ con lên đây thấm thoắt trên hai mươi năm.

Đó là Thượng tá Trần Văn Khoa - Chính trị viên đồn A Mú Sung.

Năm 1993, Trần Văn Khoa vác ba lô lên A Mú Sung và ở một mạch cho đến tận bây giờ. Cái khó, cái khổ, cái cơ cực nhiều như lá cây rừng không thể nào nhớ hết. Nhưng Trần Văn Khoa không những không thoái lui mà anh còn vận động đưa vợ con lên. Tôi nhìn anh như nhìn người giời. Người ta thì tiến xuống thị trấn, tiến vào thành phố, tiến ra thủ đô, Trần Văn Khoa làm quy trình ngược. Anh vận động vợ con từ Gia Lộc - Hải Dương lên Nậm Chảy, nơi xa nhất của huyện Bát Xát. Không biết chàng sĩ quan biên phòng họ Trần đã thì thầm vào tai người vợ trẻ thế nào mà cả nhà hăng hái dắt nhau lên đúng nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt để định canh định cư. Hai cậu con trai một đang học Đại học Thái Nguyên một đang học lớp tám ở Bát Xát còn vợ thì anh bảo đang gửi mấy ông ủy ban xã người Mông ở Nậm Chảy. Tôi đi từ kinh ngạc này sang kinh ngạc khác trước sự bình thản của người chiến sĩ biên phòng nơi đồn trạm A Mú Sung.

Nơi biên giới, hôm nay cũng có rất nhiều cái mới, nhiều mô hình làm ăn kinh tế có hiệu quả. Những người lính biên phòng cũng là những người đi tiên phong trong giúp đỡ bà con làm ăn tiến tới làm giàu. Các anh cũng là những người đến với dân đầu tiên ngay sau khi tắt tiếng súng đầu những năm tám mươi. Từ những ngày đầu lên với bản làng các dân tộc nơi biên giới cái gì cũng không có đến bây giờ bà con mình nơi nào cũng có ăn có mặc, nhiều bản, nhiều hộ gia đình còn làm giàu được. Các bản dọc tuyến biên giới huyện Bát Xát và đặc biệt là xã A Mú Sung trước đây dân đói nghèo lắm. Cả làng cả bản không có nổi cái ti-vi, chiếc xe máy nào. Thế là bộ đội biên phòng quyết tâm phải bằng mọi cách thay đổi đời sống bà con. Quyết tâm thì cao, rất cao nhưng làm gì là cả vấn đề. Phía bên Trung Quốc khi ấy dân của bạn trồng chuối, dứa có thu nhập khá cao vì thổ nhưỡng ở đây hợp với loại cây này. Khi ấy quan hệ giữa ta và bạn còn căng. Phải làm thế nào? Tại sao không mở cửa xuất sang bạn? Quả dứa, quả chuối có lỗi gì đâu? Thế là bắt tay vào làm mọi việc. Bên này bên kia nhiều người là họ hàng, thân tộc, dòng tộc nên điểm đột phá là rất đúng hướng. Mặc dù những ngày đầu ấy có không ít người phản đối. Không ít đồng chí của ta còn hồ nghi, còn cho là tự “diễn biến hòa bình”. Câu trả lời chỉ đến khi dân ngày càng no ấm, giàu có. Nhiều gia đình hiện nay thu nhập bình quân từ 200 đến 300 triệu đồng/năm. Đường đã đi qua được những chặng khó khăn tưởng như là không thể vượt lên được.

Với mỗi người dân nơi biên giới, cái quan trọng nhất là được xây dựng tổ ấm gia đình mình bằng chính đôi bàn tay khối óc của mình. Nói đơn giản thế nhưng bắt tay làm không dễ. Nơi xa xôi, làm ra được nông thổ sản đã khó nhưng bán đi đâu, bán cho ai để được đúng giá trị mồ hôi nước mắt còn khó hơn nhiều. Chính sách biên mậu của bạn cũng là cả vấn đề lớn. Có khi đang mua mặt hàng này đã thành nền nếp trôi chảy đột ngột dừng mua không rõ lý do khiến bà con, tiểu thương, nhiều khi cả doanh nghiệp của ta không biết xoay xở vào đâu. Bộ đội Biên phòng luôn sát cánh với bà con nơi biên giới từ những cái nhỏ nhất để ổn định những cái lớn hơn là vì thế. Như cây chuối chẳng hạn. Bộ đội Biên phòng ở đây luôn nhắc bà con phải thực hiện đúng quy trình mà khách hàng đặt ra. Đừng lấy lợi nhuận trước mắt mà bỏ qua lợi ích lâu dài. Vấn đề các cây củ quả khác cũng vậy. Phải biết tạo ra những sản phẩm sạch một cách bền vững mới có được niềm tin lâu dài để cùng làm giàu, cùng phát triển.

Từ truyền thống hào hùng của quân đội ta, mỗi người chiến sĩ Biên phòng nơi biên giới luôn coi đó là điểm tựa vững chắc để tiếp tục rèn luyện năng lực và bản lĩnh của mình trong hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Cuộc sống sôi động và có không ít những phức tạp đang diễn ra cũng là thử thách lớn của mỗi người chiến sĩ. Đất nước hòa bình, hội nhập toàn diện, có nhiều cái mới, có nhiều sức ép đối với người chiến sĩ trong đó có người chiến sĩ biên phòng. Từ những ngày khó khăn, thiếu thốn chồng chất, nhiều chiến sĩ thậm chí đã hy sinh tính mạng vì biên giới bình yên, vì sự vững chắc của chủ quyền Tổ quốc, đến hôm nay, thế hệ mới đang đảm đương trọng trách mà cha anh đi trước truyền giao lại thì việc vượt qua mọi thách thức chính là tiếp tục khẳng định bản lĩnh người chiến sĩ biên phòng, bản lĩnh người lính Cụ Hồ trong tình hình mới.

Bút ký của PHÙNG VĂN KHAI