60 năm Tạp chí Văn nghệ Quân đội (1957-2017)

Từ mái nhà số 4

Thứ Ba, 27/12/2016, 03:04:11
 Font Size:     |        Print
 

Các nhà văn quân đội trong chuyến đi thực tế Đồn Biên phòng Lạng Sơn.

Hà Nội có nhiều ngôi nhà thật đặc biệt gắn với những dấu mốc của Cách mạng Việt Nam. Đó là nhà số 5D Hàm Long - nơi thành lập Chi bộ Cộng sản đầu tiên tháng 3-1929 với các đồng chí Ngô Gia Tự, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Phong Sắc, Trần Văn Cung… Đó là ngôi nhà 90 Thợ Nhuộm - nơi Tổng Bí thư đầu tiên Trần Phú đến ở tháng 5-1930 đồng thời viết Dự thảo Luận cương chính trị. Đó là ngôi nhà lịch sử 48 Hàng Ngang - nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tháng 8-1945. Nhà số 8 Lê Thái Tổ - nơi ở của Bác Hồ những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp…

Phố nhà binh Lý Nam Đế cũng có một ngôi nhà chỉ cần nhắc đến tên là người yêu văn chương cả nước nhiều thế hệ đều biết đến. Đó là ngôi nhà số 4 - một địa chỉ văn học lớn - nơi các thế hệ nhà văn từ tiền chiến, chống Pháp, chống Mỹ, thời Đổi mới đến hôm nay. Từ mái nhà số 4, các nhà văn vào chiến trường, chiến đấu, sáng tác văn học và hy sinh như Nguyễn Thi. Nhân vật trở thành anh hùng và nhà văn cũng trở thành Anh hùng cũng là điều thật đặc biệt. Từ mái nhà số 4, văn chương đồng hành cùng nhân dân, chiến sĩ cả nước đã trên nửa thế kỷ.

Tạp chí Văn nghệ Quân đội là tạp chí sáng tác văn học và bình luận văn học nghệ thuật, xuất bản từ năm 1957 với Ban biên tập đầu tiên là những tên tuổi như: Văn Phác, Thanh Tịnh, Vũ Cao, Từ Bích Hoàng, Hữu Mai, Hồ Phương, Nguyễn Thi, Nguyễn Khải, Nguyễn Trọng Oánh, Lưu Trùng Dương, Nguyên Ngọc, Mai Văn Hiến (họa sĩ), Đỗ Nhuận (nhạc sĩ), Hà Mậu Nhai, Xuân Thiêm, Vũ Sắc, Phác Văn, Minh Giang, Tạ Hữu Thiện… Đây không chỉ là nơi hội tụ của các thế hệ nhà văn quân đội mà còn là địa chỉ quen thuộc của các cây bút trong cả nước, là diễn đàn tin cậy của nhà văn Việt Nam.

Trong những năm chiến tranh chống Mỹ ác liệt, tạp chí luôn có mặt ở các mặt trận. Ở đâu có bộ đội, ở đó có Văn nghệ Quân đội. Bộ đội đọc Văn nghệ Quân đội trên đường hành quân, bên cánh võng, trong căn hầm dã chiến hoặc giữa hai trận đánh. Nhiều cuốn do bom đạn đã xém lửa, đôi khi thấm máu được bộ đội chuyền tay nhau đọc. Có thể thấy, những trang văn trang thơ trên Văn nghệ Quân đội đã luôn đồng hành với nhân dân và chiến sĩ suốt chặng đường đánh giặc.

Ngôi nhà số 4 - mái ấm văn chương của đội ngũ văn nghệ sĩ quân đội luôn nhớ đến và biết ơn tới sự lãnh đạo của Đảng, quân đội, sự lãnh đạo trực tiếp của Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam. Đặc biệt, đồng chí Đại tướng Nguyễn Chí Thanh -
Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị đầu tiên là người quyết định phân ngôi nhà số 4 cho Văn nghệ Quân đội. Đại tướng luôn dành tình cảm đặc biệt cho các nhà văn quân đội. Nhiều khi, thủ trưởng lặng lẽ đến thăm các nhà văn, lắng nghe, san sẻ và truyền lửa cho đội ngũ văn nghệ sĩ. Nối tiếp truyền thống tốt đẹp ấy, các thủ trưởng Tổng cục Chính trị các thời kỳ luôn sâu sát, động viên, khích lệ, coi tạp chí như một kênh thông tin văn học chuẩn mực và tin cậy.

Văn nghệ Quân đội có nhiều nhà văn được Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật như: Nguyễn Thi, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Hồ Phương, Hữu Thỉnh, Xuân Thiều và hàng chục nhà văn khác được Giải thưởng Nhà nước, Giải thưởng Hội Nhà văn, Giải thưởng văn học Bộ Quốc phòng và các Giải văn học quốc tế (Bông Sen, Asean, Sông Mê Công). Những tên tuổi như: Thanh Tịnh, Vũ Cao, Xuân Thiều, Nguyễn Trọng Oánh, Nguyên Ngọc, Nguyễn Chí Trung, Dũng Hà, Mai Ngữ, Nhị Ca, Thu Bồn, Bùi Minh Quốc, Triệu Bôn, Lê Lựu, Hữu Thỉnh, Nguyễn Thị Như Trang, Vương Trọng, Anh Ngọc, Nguyễn Đức Mậu, Hồng Diệu, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Khắc Trường, Ngô Thảo, Vương Trí Nhàn, Thanh Quế, Trung Trung Đỉnh… Văn nghệ Quân đội cũng là tạp chí văn chương đầu tiên, duy nhất hiện nay được phong tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng LLVT và cũng là một trong không nhiều cơ quan báo chí có phóng viên được truy tặng danh hiệu Anh hùng, đó là nhà văn liệt sĩ Nguyễn Thi.

Điều này càng khẳng định đội ngũ các nhà văn quân đội luôn bám sát cuộc sống chiến trường, trực tiếp chiến đấu và hy sinh cùng với nhân dân và chiến sĩ.

Thế hệ lãnh đạo của tạp chí đầu tiên phải kể đến Văn Phác, Thanh Tịnh. Thiếu tướng nhà văn Văn Phác sau đó đảm đương cương vị Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, tiếp đó ông làm Bộ trưởng Bộ Văn hóa. Ở Văn Phác thể hiện rõ bản lĩnh chính trị và tầm nhìn văn hóa sâu rộng, những nền tảng, cốt cách chính yếu hình thành Văn nghệ Quân đội. Ông làm Chủ nhiệm từ 1957 đến 1963.

Tổng Biên tập Thanh Tịnh - một nhà thơ nổi tiếng từ thời tiền chiến cùng với Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử, Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận… đồng thời là bạn học đồng hương với Đại tướng Nguyễn Chí Thanh - một người rất đặc biệt trong ứng xử với các văn nghệ sĩ quân đội trong những năm Thanh Tịnh làm Tổng Biên tập.

Tổng Biên tập Vũ Cao đảm đương cương vị này từ năm 1970 đến năm 1977. Thời kỳ này các nhà văn vào chiến trường và từ chiến trường trở về rất đông. Tổng Biên tập Dũng Hà cũng là một người đặc biệt. Từng là chiến sĩ Điện Biên còn mang trên mình vết đạn, khi đang là Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tư lệnh Đặc công, năm 1982, ông được cấp trên điều về làm Tổng Biên tập Văn nghệ Quân đội. Quen đánh giặc hơn viết văn, nhưng Dũng Hà đã trụ vững ở cương vị mới và có những đóng góp xứng đáng tạo nên bề dày truyền thống của một địa chỉ văn chương lớn. Những tác phẩm: Cây số 42; Sao mai; Mảnh đất yêu thương; Đường dài và đặc biệt là Sông cạn đã đặt ông đúng vị trí văn học của mình.

Tiếp đó là các Tổng Biên tập Nguyễn Trí Huân, Nguyễn Bảo, Ngô Vĩnh Bình và hiện nay là nhà văn Nguyễn Bình Phương. Mỗi người mỗi vẻ, các tổng biên tập dù luôn khác nhau từ cá tính tới sáng tác nhưng ai cũng có những đóng góp xứng đáng vào ngôi nhà số 4. Họ đều là một phần văn học ở ngôi nhà đặc biệt này.

Dưới mái nhà số 4 có tới bốn nhà văn được phong quân hàm cấp tướng. Đó là các nhà văn Văn Phác, Dũng Hà, Hồ Phương và Nguyễn Chí Trung. Điều này cũng là điều đặc biệt. Không ai sinh ra đã mặc định viết văn mang quân hàm tướng. Chính cuộc chiến đấu vĩ đại vì Tổ quốc vì nhân dân đã sinh ra nhà văn và vị tướng. Nhà văn và vị tướng trước hết thuộc về nhân dân và chiến sĩ ta.

Một điều đặc biệt làm nên văn hiệu Văn nghệ Quân đội chính là đội ngũ cộng tác viên trong suốt 60 năm. Hình thành và quyết định chất lượng một tác phẩm văn chương là đơn độc cá nhân sáng tạo nên nhưng khẳng định một văn hiệu lại do các thế hệ cộng tác viên góp phần quyết định. Có nhiều độc giả cứ tưởng họ ở Văn nghệ Quân đội như Phạm Tiến Duật, Đỗ Chu, Xuân Quỳnh. Như thế cũng chẳng sai vì các anh chị luôn coi nhà số 4 chính là ngôi nhà văn chương của mình. Đọng lại là những tác phẩm văn học. Nhà thơ Xuân Quỳnh từng xin đầu quân cho Văn nghệ Quân đội. Nhà văn Đỗ Chu coi mình như thành viên. Nhà thơ Phạm Tiến Duật cũng vậy. Chính điều đó đã làm nhà số 4 thêm thiêng.

Từ mái nhà số 4, cuộc sống sôi động, đa chiều của nhân dân và đất nước ngấm vào từng trang văn để từ từng trang văn ấy lại tỏa ra cuộc đời dài rộng. Các tiểu thuyết, trường ca, truyện ngắn, bút ký, thơ, nhạc từ mái nhà số 4 ùa đến với nhân dân và chiến sĩ. Đội ngũ các nhà văn quân đội nối tiếp nhau thực hiện sứ mệnh văn chương. Ở những điểm nóng nhất của thời cuộc, đều thấy bóng dáng, trọng trách của các nhà văn quân đội. Nhiều tác phẩm văn học đã là những biểu tượng của một thời, của nhiều thời. Từ những Đất nước đứng lên, Đường chúng ta đi của Nguyên Ngọc; Núi đôi của Vũ Cao; Đồng chí của Chính Hữu; Mùa lạc, Tầm nhìn xa của Nguyễn Khải; Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu; Chúng con chiến đấu cho Người sống mãi Việt Nam ơi của Nam Hà; Việt Nam trên đường chúng ta đi của Xuân Sách… và sau này là những Thời xa vắng, Sóng ở đáy sông của Lê Lựu; Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường; Ăn mày dĩ vãng, Phố của Chu Lai; Lạc rừng của Trung Trung Đỉnh… và tiếp đó là thế hệ Nguyễn Hữu Quý, Sương Nguyệt Minh, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Đình Tú, Đỗ Bích Thúy, Phạm Duy Nghĩa, Đỗ Tiến Thụy, Nguyễn Mạnh Hùng, Uông Triều, Hoàng Đăng Khoa, Đoàn Minh Tâm… đảm đương vai trò tiếp nối một cách xứng đáng.

Văn nghệ Quân đội luôn ý thức sâu sắc vai trò là nơi tập hợp đội ngũ các nhà văn quân đội, người sáng tác trong cả nước. Các cuộc thi văn chương của tạp chí luôn được đón nhận, chờ đợi, hy vọng và khẳng định những dấu mốc văn chương quan trọng. Từ cuộc thi, đội ngũ các nhà văn đặc biệt là lớp nhà văn trẻ xuất hiện và được khẳng định. Nhiều tác phẩm gây tiếng vang và là những thương phẩm văn học đặc thù, truyền thống.

Từ mái nhà số 4, những thanh âm trong trẻo, hữu ích đến với bộ đội, đến với nhân dân. Các nhà văn quân đội không chỉ có mặt trên mỗi trang viết mà còn có mặt nơi bão lốc, cháy rừng, lũ quét. Các nhà văn ở nhà số 4 đều nhiều lần đến Trường Sa. Có người đi hằng tháng như Duy Khán. Có người ở nhiều năm như Trần Đăng Khoa. Mùa sóng gió, mùa biển lặng, các nhà văn đều đến nơi biên giới, hải đảo với tấm lòng của nhà văn - chiến sĩ. Hằng năm, các nhà văn quân đội đến Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ ăn cùng, ở cùng và lắng nghe nhịp đập của trái tim người chiến sĩ. Những tập ghi chép, bút ký, truyện ngắn mang đậm hơi thở người lính là món ăn tinh thần bổ ích của bộ đội ta. Và cũng chính người chiến sĩ đang ngày đêm miệt mài với từng nhiệm vụ nơi biên giới hải đảo đã tiếp thêm sức mạnh, là nguồn cảm hứng bất tận cho các nhà văn.

Chặng đường 60 năm Văn nghệ Quân đội là chặng đường sức vóc, nhiều thành tựu của đội ngũ các nhà văn quân đội. Chặng đường ấy là chặng đường trưởng thành của văn học Việt Nam hiện đại mà đội ngũ các nhà văn quân đội đã góp phần xứng đáng, tự hào và kiêu hãnh từ những gì chính mình trải nghiệm, đã được Tổ quốc và nhân dân ghi nhận. Trong công cuộc đổi mới hôm nay, đồng hành với người chiến sĩ và nhân dân, các nhà văn quân đội từ mái nhà số 4 chắc chắn sẽ xứng đáng với những gì thế hệ trước đặt niềm tin.

Ghi chép của PHÙNG VĂN KHAI