Bác Hồ trong trái tim vị tướng trận mạc

Thứ Bảy, 20/05/2017, 04:21:10
 Font Size:     |        Print
 

Ðại tướng Võ Nguyên Giáp và Ðại tướng Văn Tiến Dũng về thăm, dự kỷ niệm Ngày truyền thống Quân đoàn 1; Thiếu tướng Tư lệnh Quân đoàn 1 Nguyễn Huy Hiệu đứng giữa.

Ở tuổi 70, hằng ngày Thượng tướng, Viện sĩ, Anh hùng LLVT Nguyễn Huy Hiệu vẫn đến văn phòng làm việc. Thực tế, ông đã được nghỉ hưu cách đây 5 năm, nhưng vốn là một vị "tướng trận", quen xông xáo, là nhà khoa học đam mê công việc, ông chưa muốn nghỉ ngơi. Ðó là lý do hằng ngày ông vẫn đến văn phòng nghiên cứu khoa học quân sự, nghệ thuật chiến tranh. Tiếp thu được những điều hay ông lại trao đổi với các tướng lĩnh đương nhiệm.

Vào những dịp kỷ niệm 30 tháng 4 (Ngày giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất đất nước), dịp 27 tháng 7 (Ngày Thương binh - Liệt sĩ), dịp 22 tháng 12 (Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam), ông thường vào Quảng Trị, nơi ông từng sống và chiến đấu nhiều năm trong chiến tranh chống Mỹ, cứu nước. Ông vào đó vận động các đồng đội, cùng với các tổ chức và nhân dân đi tìm và quy tập hài cốt các đồng đội đã hy sinh mà ông biết vị trí mai táng. Ông vận động các địa phương, những nhà hảo tâm, doanh nhân… đóng góp xây dựng nhiều công trình tưởng niệm, tri ân như: Tượng đài hoài niệm Quảng Trị để tri ân báo đáp Anh hùng liệt sĩ cả nước; 7 công trình khác cũng trên đất Quảng Trị: Cụm văn hóa tâm linh, trong đó có Cây Ða giếng Ðìa ở Gia Bình - Gio An - Gio Linh; Ðài Tưởng niệm và Ðền thờ các Anh hùng liệt sĩ tại Cao điểm 82 thuộc xã Gio An, nơi Trung đoàn 812 Sư đoàn 324 của ông đã đánh bại một tiểu đoàn của quân địch, nơi này đã là nguồn cảm hứng cho nhạc sĩ Huy Thục sáng tác bài hát Tiếng đàn ta lư, trong đó có câu "Tin thắng trận từ Gio An vọng tới…"; Cụm văn hóa tâm linh gồm đền và chùa Gio An: đền thờ các Anh hùng liệt sĩ, chùa thờ Phật, giúp các vong hồn Anh hùng liệt sĩ siêu thoát. Rồi công trình bia tưởng niệm và đền thờ ở Cao điểm 31 - Phúc Sa, công trình bia tưởng niệm ở Ngô Xá Ðông… Tất cả những công trình ấy không dùng tiền ngân sách của Nhà nước.

Hiện ông và đồng đội đã khởi công Khu tưởng niệm ghi danh 2.352 liệt sĩ của Trung đoàn 27- B5 tại xã Triệu Long, huyện Triệu Phong, Quảng Trị.

Tôi hỏi ông:

- Thượng tướng nghĩ sao khi nhân dân gọi ông là "Anh bộ đội Cụ Hồ"?

Không do dự, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu trả lời:

- Tôi rất vinh dự và tự hào khi được nhân dân gọi như thế. Ngay từ thời niên thiếu ở quê hương Hải Hậu, Nam Ðịnh, tôi đã ngưỡng mộ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Với tôi, Người là một thần tượng, một tấm gương lớn về lòng yêu nước, đức hy sinh vì độc lập tự do cho Tổ quốc, về những giá trị nhân văn trong tư tưởng và tâm hồn của Người.

Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu sinh năm 1947. Thời bé thơ ông đã phải chứng kiến cảnh nhà tan cửa nát dưới gót giầy quân xâm lược, thấm thía thế nào là thảm cảnh của một người dân mất nước. Lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Không có gì quý hơn độc lập tự do", "Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ" đã đi vào tâm khảm, vào trái tim ông. Năm 1965, khi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ bắt đầu bước vào giai đoạn ác liệt, 18 tuổi, nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Người, Nguyễn Huy Hiệu viết đơn tình nguyện lên đường nhập ngũ cùng bao thanh niên từ mọi miền. Ông nói rằng, nhân dân gọi những chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam bằng hình tượng "Anh bộ đội Cụ Hồ" là hoàn toàn chính xác và rất đỗi thân thương.

Trong cuộc đời binh nghiệp, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu đã trải qua nhiều cái Tết, nhưng Tết của những năm Chủ tịch Hồ Chí Minh còn mạnh khỏe bao giờ cũng gây cho ông và đồng đội một niềm xúc động, một ấn tượng đặc biệt không thể quên. Hồi ấy Trung đoàn 27 của Nguyễn Huy Hiệu đóng quân ở Quảng Trị, dù cái Tết đó ở vùng giải phóng hay trong vùng có địch chiếm đóng, mọi người trong đơn vị ông luôn háo hức mong đợi đến thời khắc giao thừa để được nghe lời Chủ tịch Hồ Chí Minh chúc Tết và nghe thơ của Người. Sau mỗi thời khắc giao thừa thiêng liêng ấy, cán bộ, chiến sĩ như được tiếp thêm nguồn sức mạnh, lòng yêu nước và niềm tin vào Ðảng, vào Cách mạng lại được củng cố, nâng cao. Ðặc biệt, sau dịp Tết Mậu Thân 1968, quân giải phóng gặp rất nhiều khó khăn. Lương thực không đủ ăn. Quân trang không đủ mặc. Trung đoàn 27 thuộc chiến trường B5, càng khó khăn gấp bội. Trung đoàn được giao nhiệm vụ vừa phải cùng với các đơn vị bộ đội và du kích địa phương đánh địch giữ chiến trường, vừa phải chuẩn bị cho các chiến dịch tiếp theo. Bước vào cái Tết 1969, khi bài thơ chúc Tết của Bác Hồ được đọc trên Ðài Tiếng nói Việt Nam, nhạc sĩ Huy Thục đã nhanh chóng phổ nhạc:

Năm qua thắng lợi vẻ vang

Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to

Vì độc lập, vì tự do

Ðánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào

Tiến lên! chiến sĩ, đồng bào

Bắc - Nam sum họp xuân nào vui hơn.

Bài thơ hay, phổ nhạc cũng hay. Hầu như tất cả mọi người đều thuộc. Bài hát phổ thơ Bác như một lời hiệu triệu thúc giục những chiến sĩ giải phóng vững tin bước vào những trận đánh mới. Nhưng cũng đúng vào năm 1969 ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra đi mãi mãi. Thoạt tiên, nghe đài Giải phóng báo tin về sức khỏe không được tốt của Bác, cả đại đội của Nguyễn Huy Hiệu thổn thức suốt đêm không ai ngủ, chỉ mong sao Bác khỏe lại để cùng với Trung ương lãnh đạo thành công cuộc kháng chiến. Nguyễn Huy Hiệu chỉ mong nếu như có một phép màu nhiệm, dù phải làm một việc gì đó đầy vất vả hy sinh để Bác được khỏe mạnh trở lại, ông cũng sẵn sàng. Nhưng rồi cuối cùng họ đã phải lắng nghe tin buồn thông báo Bác đã ra đi. Cả đại đội đứng xếp hàng nghiêm trang dưới những tán lá rừng theo dõi lễ tang qua chiếc đài bán dẫn. Trên đầu, lũ máy bay trinh sát của địch vẫn vè vè nhòm ngó. Thỉnh thoảng lại có tiếng bom, tiếng đạn pháo của địch nổ khi gần khi xa. Có lúc, cả đơn vị như chìm xuống, chết lặng. Nhất là khi đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất thay mặt Trung ương Ðảng đọc điếu văn với lời lẽ truyền cảm, thống thiết thì cả đơn vị không ai cầm nổi nước mắt.

Ngày hôm sau, cấp trên cho mang xuống đại đội một tờ báo Quân Giải phóng. Mọi người chuyền tay nhau đọc lời Di chúc của Bác. Rồi lãnh đạo Trung đoàn, Tiểu đoàn, Ðại đội phát động toàn đơn vị biến đau thương thành hành động, quyết tâm thực hiện Di chúc của Người. Trung đoàn 27 đã liên tiếp thực hiện nhiều trận đánh, lập nhiều chiến công dâng lên Bác.

Như trận tiêu diệt cụm bộ binh cơ giới Mỹ ở Sáp Ðá Mài - Tân Kim - Cam Lộ - Quảng Trị đêm ngày 4 rạng sáng ngày 5-4-1970. Lúc đó Nguyễn Huy Hiệu là Ðại đội trưởng Ðại đội 2, Tiểu đoàn 3. Ðại đội được cấp trên giao nhiệm vụ tiêu diệt một cụm bộ binh cơ giới Mỹ ở Sáp Ðá Mài. Thời điểm này, Mỹ dùng chiến thuật "Trâu Rừng" của tướng Abram, tức là dùng xe tăng để càn quét kết hợp với các loại hỏa lực cả ở trên không, trên biển, mặt đất để tiêu diệt lực lượng của ta. Nhiệm vụ của Nguyễn Huy Hiệu là phải đưa Ðại đội 2 luồn vào, đánh sâu từ bên trong lòng địch. Sau bốn ngày đêm bám sát, nắm quy luật của địch, đêm mùng 4 rạng sáng ngày 5-4-1970, đơn vị đã nổ súng chiến đấu, tiêu diệt gọn cụm bộ binh cơ giới ấy. Trận đánh ấy cùng với các trận đánh của các đơn vị khác trong trung đoàn và mặt trận đã góp phần đánh bại chiến thuật "Trâu Rừng" của tướng Abram - viên tướng nổi tiếng của Mỹ, buộc chúng phải rút về Ðông Hà. Kết thúc trận đánh đó, Ðại đội 2 được khen thưởng và đồng chí Nguyễn Huy Hiệu được bổ nhiệm làm Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3, Tiểu đoàn chủ công của Trung đoàn 27-B5.

Một trận đánh khác cũng để lại dấu ấn đặc biệt trong cuộc đời binh nghiệp của tướng Nguyễn Huy Hiệu. Ðó là vào năm 1972, Trung đoàn 27 lại tổ chức những trận đánh ở cao điểm 322, 288 Ðồi Tròn. Nhiệm vụ của Trung đoàn là giải phóng khu vực điểm cao 544 (Phu-lơ). Trên cứ điểm này, địch bố trí ba dàn ra-đa kiểm soát mọi chuyển động lớn nhỏ của quân ta. Trận địa pháo cối của địch luôn phát huy lợi thế trên cao để bắn phá các trận địa của ta trên toàn tuyến hành lang. Ðây cũng là điểm nối của một con đường cho xe tăng lên căn cứ Phu-lơ từ Cam Lộ qua điểm cao 322 và điểm cao 288. Nhận lệnh tấn công Phu-lơ, ai cũng hồi hộp vì trước đó ta và địch đã giành giật nhau nhiều lần tại cứ điểm này. Ngày 26-3-1972, công tác chuẩn bị cho chiến dịch đã cơ bản hoàn thành. Bộ Tư lệnh chiến dịch quyết định giờ nổ súng tiến công trên toàn mặt trận vào 11 giờ 30 phút ngày 30-3. Thế nhưng, đã xảy ra một tình huống bất ngờ đòi hỏi Nguyễn Huy Hiệu phải đưa ra một quyết định táo bạo: 10 giờ 30 phút, tức là trước giờ dự kiến nổ súng một tiếng thì Tiểu đoàn 3 ngụy lọt vào trận địa phục kích. Khi đó những người chỉ huy rất băn khoăn, Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Huy Hiệu và Chính trị viên Trần Xuân Gứng trao đổi nhanh và cuối cùng quyết định báo cáo Trung đoàn trưởng qua điện thoại xin cho nổ súng trước giờ G. Trung đoàn trưởng nhất trí. Mệnh lệnh Trung đoàn đưa ra khi ấy là đánh nhanh gọn, xóa sổ tiểu đoàn 3 của ngụy, không để địch kịp điều thêm xe tăng gây khó khăn cho trận địa. Các mũi tiến công đồng loạt bao vây, chia cắt, chặn đường rút lui của địch. Trong trận đánh ấy, tiểu đoàn do Nguyễn Huy Hiệu chỉ huy đã làm chủ hoàn toàn khu vực phía đông nam căn cứ Phu-lơ và Ðồi Tròn, cắt rời thế liên hoàn của các căn cứ Phu-lơ, Ðồi Tròn, Cam Lộ, tạo điều kiện cho đơn vị bạn tiêu diệt toàn bộ căn cứ Phu-lơ. Khi đó, chiến sĩ Nguyễn Viết Mão - xạ thủ trung liên của Tiểu đoàn 3 đã bắt sống Thiếu tá Hà Thúc Mẫn - Tiểu đoàn trưởng quân ngụy Sài Gòn.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành tình cảm đặc biệt cho đồng bào miền nam ruột thịt. Miền nam là một nửa đất nước. Khi một nửa đất nước còn nằm dưới ách thống trị của Mỹ - ngụy thì trái tim Người luôn hướng về miền nam, thương nhớ đồng bào ngày đêm đang phải chịu cảnh máu chảy đầu rơi, mong mỏi ngày đất nước thống nhất. Tình cảm của Người dành cho đồng bào miền nam được thể hiện qua câu nói giản dị mà rất nổi tiếng: "Miền Nam luôn ở trong trái tim tôi". Trong hàng nghìn bức thư, bức điện, bài nói, bài viết, trả lời phỏng vấn… Bác Hồ luôn dùng những lời lẽ cao quý nhất, trang trọng và tha thiết nhất để ca ngợi tinh thần bất khuất, kiên cường, lòng yêu nước của đồng bào, chiến sĩ miền nam. Người tặng danh hiệu cao quý "Thành đồng Tổ quốc" cho nhân dân miền nam, tặng phụ nữ miền nam tám chữ vàng "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang". Người kêu gọi: "Vì miền Nam ruột thịt, mỗi người làm việc bằng hai", dồn sức người, sức của để chi viện cho quân dân miền Nam chiến đấu.

Trong Di chúc của Người, ngay dòng đầu tiên đã khẳng định như một lời tiên tri: "Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn". Bởi vậy, chiến dịch 30 tháng 4 năm 1975 được mang tên "Chiến dịch Hồ Chí Minh" là rất có ý nghĩa.

- Tôi được biết Thượng tướng cũng có tham gia chiến dịch này?

- Ðúng vậy - Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu đáp - Tôi có vinh dự được tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh.

Khi ấy Nguyễn Huy Hiệu giữ cương vị Trung đoàn trưởng Trung đoàn 27, trong đội hình Sư đoàn 320B, Binh đoàn Quyết Thắng. Trung đoàn xuất phát từ Tam Ðiệp, hành quân thần tốc 1.700 km vào Ðồng Xoài, tiến công tiêu diệt nhiều mục tiêu ở Lái Thiêu, Búng, cầu Vĩnh Bình rồi tiến vào nội thành chiến đấu giải phóng hoàn toàn Sài Gòn. Và đến giờ khắc cuối cùng của cuộc chiến tranh, Trung đoàn 27 vẫn có khá nhiều cán bộ, chiến sĩ hy sinh.

Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu nói rằng, ông rất tiếc khi chỉ được biết Chủ tịch Hồ Chí Minh qua phim ảnh và nghe giọng nói của Người trên sóng phát thanh. Bởi ông liên tục chiến đấu trong chiến trường miền nam. Khi ông ra bắc thì Bác đã đi xa. Bây giờ, tuy đã sang tuổi 70, tướng Nguyễn Huy Hiệu vẫn rèn luyện, học tập theo tấm gương của Bác, không chỉ bằng sách vở mà còn bằng những việc làm cụ thể như cống hiến cho khoa học, môi trường, đền ơn đáp nghĩa…

Hà Nội tháng 5 năm 2017

Năm 2010, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu được Viện Hàn lâm khoa học quân sự nước Cộng hòa Liên bang Nga bầu làm Viện sĩ.

Bút ký của Lê Hoài Nam