Phận đá Bảy Núi

Thứ Sáu, 16/03/2018, 01:23:30
 Font Size:     |        Print
 

Nghề đá vừa cực vừa tổn sức.

Miệt Bảy Núi (An Giang) nổi danh về thắng cảnh núi non trùng điệp nằm xen lẫn với đồng ruộng bao la, như một điểm nhấn của khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Đá núi tạo cho nơi này một địa hình bán sơn địa vô cùng độc đáo. Trải qua bao thăng trầm thế cuộc, đá Bảy Núi bao lần thấm máu đào của các chiến sĩ. Đá Bảy Núi cũng ướt đẫm mồ hôi những số phận nhọc nhằn mưu sinh.

Tôi gặp anh Tú năm lần hay bảy lần gì đó, tôi không nhớ rõ. Nhà anh ở ngay bãi đá số 11, thuộc ấp Tô Bình, xã Cô Tô (Tri Tôn). Đây là nơi được Công ty khai thác đá An Giang tổ chức cho nổ mìn tách đá từ núi, sau đó chế biến đá thành phẩm rồi bán cho thương lái. Những tiếng nổ mìn chát chúa như xé toạc không gian; những đôi vai bóng nhẫy mồ hôi dưới trời nắng gắt; những chiếc ghe đá khẳm lừ xuôi ngược dòng kênh Ba Thê, đó là tất cả những ấn tượng với khách lạ khi lần đầu đến nơi này. Tôi ngồi với anh Tú một buổi chiều mưa. Anh Tú làm nghề gánh đá mướn ở đây đã hơn ba chục năm rồi. Hiện giờ, trung bình thu nhập mỗi ngày của anh khoảng một trăm nghìn đồng. Những khi không ai mướn, anh đi phụ hồ thêm để có tiền lo cho đứa cháu gái mới bốn tuổi. Tôi hỏi, con anh đâu sao anh phải lo cho cháu? Anh Tú trầm ngâm, tôi có vợ, không có con nhưng lại làm... ông ngoại. Rồi anh cười hiền, kể, vợ tôi trước đây đẹp nhất xóm này, bị một chủ ghe đá gạt, đến khi có mang, tên đó trốn mất. Thấy cô đau khổ định tự tử nên tôi cưới cô. Đến nay, ngoài đứa trẻ trong bụng cô lúc ấy, chúng tôi chưa có thêm đứa con chung nào. Con gái cô mười bảy tuổi lấy một anh phu đá trong xóm, sinh được đứa cháu này thì khổ quá, đành phải gởi lại cho vợ chồng tôi để đi Bình Dương. Giọng anh Tú trầm đục như tiếng mưa thổn thức, thâm u.

Mưa đổ lạch bạch trên mái lá. Anh Tú kể xong những điều trên rồi hầu như không nói nữa, chỉ đưa mắt nhìn khoảng không lòa nhòa ngoài cửa. Đứa cháu ngoại của anh lâu lâu chạy lại dựa vào lòng anh. Anh xoa đầu, hôn lên tóc nó một cái rồi rít mấy hơi thuốc. Chị Lệ vợ anh lâu lâu đi ra xem chúng tôi cần gì không, xong lại vào trong. Chỉ có dì Chín, mẹ ruột chị Lệ nằm võng bên cạnh, đưa cót két, kể chuyện đời xưa, đời nay. Tôi và anh Tú ngồi lặng yên như hai pho tượng, chỉ còn tiếng mưa, tiếng võng và tiếng dì Chín.

Dì Chín bảo, cả nhà dì sống nhờ đá, có được nhiều thứ từ đá nhưng cũng mất đi nhiều thứ lắm. Con trai thứ hai của dì là anh Võ Văn Tùng, gánh đá bị té năm 23 tuổi, bác sĩ nói bị dập phổi, gãy xương sườn, cả đời không làm nặng được. Một năm sau khi anh bị tai nạn, vợ anh đã bỏ đi, để lại đứa con mới hơn một tuổi. Giờ anh Tùng đã 40 tuổi, vẫn không làm gì nặng nhọc được, phải phụ giúp bán quán cơm kiếm tiền lây lất sống qua ngày. Dì nói mỗi gánh đá nặng chừng 120 kg. Phu đá gánh từ bến xuống ghe, đi trên cây cầu bằng miếng ván bề ngang khoảng hai tấc rưỡi, trượt chân là coi như hoặc chết hoặc bị thương. Xóm này cũng nhiều người bị té lắm, kể không xiết đâu, nhưng nghề mà, phải ráng theo thôi con. Dì Chín nói thế, giọng vẫn thản nhiên như không. Tôi hỏi, làm cực khổ, đôi khi bán mạng vậy sao cả cái xóm này con thấy toàn dân nghèo không dì? Dì bảo, khá là thời trước, chứ giờ gánh chỉ được mấy ghe nhỏ, ghe lớn người ta làm sạt (một dụng cụ được làm để xe tải chở đá có thể đổ đá trực tiếp xuống ghe) hết rồi, ai mướn gánh nữa đâu. Nhà dì trước kia có bốn người làm phu đá, đồng vô đồng ra thoải mái lắm. Nhưng từ khi người ta xây mấy cái sạt, số nhân công được thuê mướn giảm nhiều, mấy anh con trai dì đều dạt lên xứ Bình Dương, Đồng Nai làm công nhân cho xí nghiệp. Chỉ còn anh Tú con rể dì bám nghề. Ông Chín cũng theo nghề, nhưng giờ già rồi, chỉ làm đá vụn, ngày kiếm mấy chục nghìn, nhiều khi chỉ đủ tiền thuốc. Sợ tôi không hiểu, dì nói thêm, nghề đá vừa cực vừa tổn sức. Thí dụ, mấy thanh niên gánh đá giữa trưa nắng, nóng quá là nhảy cái ùm xuống sông cho người “nguội” bớt, rồi để mình mẩy ướt như vậy gánh tiếp, đến khô lại nhảy xuống. Kiểu đó lâu ngày hầu như đứa nào cũng bị bệnh phổi. Thêm nữa, dân chẻ đá, đục đá hoặc làm đá vụn thì bị bụi đá bay vào phổi, thời trẻ không sao chứ lúc về già bệnh rề rề hoài. Tiền cũng vô nhưng ra đường này đường kia hết, đến khi già nhiều khi không có tiền uống thuốc. Dân nơi đây ai cũng biết làm đá cực, nhưng không chọn nghề này biết làm gì bây giờ. Đất cát không có, chỉ làm mướn lây lất thôi, không thì đi Bình Dương làm công nhân, cũng vậy, lại xa quê. Có người đâu chịu rứt khỏi quê, đành bám đá để sống cuộc đời cùng đá.

Tiếng dì Chín rớt đều trong đêm. Tôi nghe như cả một quãng đời dài đằng đẵng của dì ngập trong đá, được dì gợi lên khoan nhặt trong đêm mưa này. Anh Tú vẫn điềm nhiên, thỉnh thoảng rít thuốc rồi nhả khói vào xa xăm. Có lẽ chính sự xuất hiện của tôi khiến cho những con người nơi đây thức dậy những kỷ niệm của một thời về đá, dẫu rằng, đó chỉ là những thổn thức không hồi kết.

Đêm đó, tôi nằm ngủ trên chiếc chõng tre trước hiên nhà dì Chín. Cái xứ này lạ, ban ngày nắng nóng như thiêu như đốt, nhưng đêm lại lạnh, cái lạnh từ đá tỏa ra. Tôi đắp một cái mền mỏng, co rút lại nhưng vẫn không ngủ được vì lạnh. Đến mãi gần sáng tôi mới chập chờn chợp mắt và trong chiêm bao, tôi thấy mình oằn dưới gánh đá nặng trĩu, rồi rơi xuống một cái vực, rất sâu. Tôi bừng tỉnh giấc, phía đằng đông ưng ửng một vệt hồng. Ngọn núi bị phạt mất một góc, hõm sâu vào, như một vết thương không bao giờ kín miệng.

***

Tôi từ giã gia đình anh Tú lúc tờ mờ sáng, rồi chạy về hướng Ba Chúc, Lương Phi. Trên đường đi, tôi gặp những bãi đá lác đác người. Có những chiếc lưng đã còng đi dưới gánh đá nặng trĩu. Những đứa trẻ ngơ ngác nhìn đống đá to bằng cái nhà mà ba mẹ chúng đang tha từng gánh xuống ghe. Những người phụ nữ ở xứ này làm việc nặng nhọc như đàn ông, mới sáng sớm, lưng họ đã ướt đẫm mồ hôi. Họ ước mơ gì khi bình minh vừa ló rạng, bên hồn đá trăm năm? Đang miên man nghĩ, tôi bỗng giật mình vì bóng Ô Tà Sóc ẩn hiện trong sương sớm, lặng thầm một nét huyền ảo nguyên sơ. Ô Tà Sóc là tên gọi theo tiếng Khmer của một ngọn đồi ở xã Lương Phi, huyện Tri Tôn, có nghĩa là “suối ông Sóc”, vì nơi đây có một dòng suối tự nhiên chảy từ đỉnh đồi xuống. Với địa hình đồi núi hiểm trở, nơi đây từng là căn cứ địa cách mạng của Tỉnh ủy An Giang thời chống Mỹ. Năm 1969, giặc tập trung mở các hướng tấn công về núi Cấm, núi Dài, núi Phú Cường và Ô Tà Sóc. Tỉnh ủy phải rút lui về núi Cô Tô, cố thủ tại đồi Tức Dụp, chỉ cử lại bảy đồng chí giữ căn cứ. Máy bay địch bắn phá ác liệt, cửa hang bị sập, cả bảy chiến sĩ đều bị kẹt lại trong hang. Khi địch rút quân, bộ đội ta tiếp tế cho các anh bằng cách đổ nước cháo và sữa qua ống tre, đồng thời tìm cách phá cửa hang nhưng không thành. Rồi địch tiếp tục mai phục và công kích, khiến người trong hang chưa cứu được mà người bên ngoài đã thương vong, quân ta đành để các anh nằm lại nơi đây. Chiến tranh đã đi qua gần nửa thế kỷ nhưng nỗi đau trên ngọn đồi Ma Thiên Lãnh nơi các anh nằm vẫn luôn quặn thắt, nhức nhối.

Ngồi dựa lưng vào tảng đá ở hang Điện Trời Gầm trên đỉnh Ma Thiên Lãnh, tôi đốt bảy điếu thuốc đặt ở miệng hang, thầm khấn vong linh các anh thôi thổn thức, bởi đất nước mình giờ liền một dải, non sông khởi sắc từng ngày. Sự hy sinh nào cho Tổ quốc cũng cần được nhắc nhớ, vinh danh.

Tôi gặp nhà thơ Trần Thế Vinh dưới chân đồi Tà Sóc. Anh là nhà thơ có câu khẩu hiệu nổi tiếng, tự xưng là “người vạch đá làm thơ xứ Bảy Núi”. Tôi nói, anh Vinh ơi, sống với đá khổ quá, sao làm thơ nổi hả anh. Anh Vinh trầm ngâm, rồi bảo, người đời đôi khi nghĩ chưa trọn về thơ. Đâu phải lúc nào thơ cũng là cái đẹp, cái lãng mạn. Thơ cần phải đa diện, phải nhìn thấy trong tận cùng nỗi khổ đau, viết bằng nước mắt của nhân sinh, thơ mới đáng đọc.

Rong ruổi quanh vùng Bảy Núi, với tham vọng hiểu thêm về đá, về quê hương, hiểu thêm về những mất mát đau thương lẫn sức hồi sinh của vùng quê này. Kia là núi Bà Đội Om với truyền thuyết về người phụ nữ thủy chung tìm chồng giữa bạt ngàn sương gió, thân hóa đá rồi mà mắt vẫn vọng về phía trời xa. Mỏm đá hình người phụ nữ đang đội chiếc cà om vươn mình trong nắng gió là minh chứng cho tình yêu vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt, đẹp vậy thay! Xa xa, núi Két ẩn hiện giữa cánh rừng xanh thẫm, như chú chim khổng lồ đang đợi thời khắc linh thiêng vỗ cánh bay vào không trung. Núi Dài nằm đối xứng với núi Két, khiến dốc Nhà Bàng như một cái yết hầu, vừa mê đắm vừa dễ chồn chân. Rồi núi Trà Sư, núi Nước, núi Tượng, núi Sam... như mấy hòn đá của những cô Tiên tinh nghịch, ném vương vãi khắp đồng bằng, khiến cho quê hương An Giang trập trùng kỳ quan của tạo hóa.

***

Một ngày, tôi đến Bến Đá dưới chân núi Sam, uống chén trà với nhà thơ Trịnh Bửu Hoài, ngắm nhìn vườn tượng bằng đá ẩn hiện trong sương sớm. Hàng trăm pho tượng đá đẹp mê hồn, nằm khép mình dưới chân núi, lánh xa những ồn ào phố xá. Nhà thơ Trịnh Bửu Hoài cho biết, những pho tượng này là tác phẩm của các điêu khắc gia trong nước và quốc tế thực hiện trong trại điêu khắc đá năm 2003. Những tảng đá nguyên khối hàng chục, hàng trăm tấn được tụ về, được nghệ nhân thổi hồn, bất giác như đang thức dậy trầm tích nghìn năm. Nhà thơ Trịnh Bửu Hoài đọc mấy câu thơ trong mông lung ảo giác: “Hớp ngụm trà sương/ Vườn khuya ngắm tượng/ Rùng mình gió thoảng/ Nghe hồn đá bay”.

Sương khói sớm mai hòa vào từng thớ đá, bật dậy sức sống cổ kim, hòa quyện đến khôn cùng. Tôi cúi đầu hôn vào chân một pho tượng đá, chợt thấy ngập tràn hồn mình những đóa hoa đá nở lung linh.

Bút ký của TRƯƠNG CHÍ HÙNG