Long đong làng nghề

Thứ Bảy, 08/09/2018, 04:45:40
 Font Size:     |        Print
 

Cần tạo thương hiệu sản phẩm cho các làng nghề truyền thống.

Kỳ 4 Tận dụng thời cơ và hội nhập quốc tế

(Tiếp theo và hết)

Thời cơ về hội nhập quốc tế đang đặt ra những thách thức mới cho mỗi làng nghề. Trong lúc này, rất cần sự khích lệ, chính sách để tận dụng những lợi thế đó. Đồng thời để góp phần gìn giữ giá trị của văn hóa làng nghề, giá trị văn hóa của cả dân tộc.

Hướng tới mỗi xã một sản phẩm

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến tháng 6-2018, cả nước có 5.411 làng nghề và làng có nghề (trong đó có 1.864 làng nghề truyền thống với 115 nghề truyền thống đã được công nhận), trong đó 60% ở vùng đồng bằng sông Hồng, 23% ở khu vực miền trung và 17% ở khu vực miền nam; thu hút khoảng 11 triệu lao động (khoảng 30% lực lượng lao động nông thôn), trong đó số qua đào tạo có chứng chỉ sơ cấp trở lên chiếm 12,3%.

Trong năm 2017, chỉ riêng ngành hàng thủ công mỹ nghệ cả nước đã có 2.000 doanh nghiệp, cơ sở tham gia xuất khẩu đạt kim ngạch trên hai tỷ USD tới hơn 160 quốc gia, vùng lãnh thổ… Kể từ ngày 1-6-2018, theo Nghị định 52/2018/NĐ-CP về phát triển ngành nghề nông thôn, làng nghề được công nhận phải đạt cả ba tiêu chí về tổng số (tối thiểu 20%) hộ trên địa bàn tham gia; về thời gian (tối thiểu hai năm liên tục) sản xuất, kinh doanh ổn định và về yêu cầu bảo vệ môi trường làng nghề theo quy định hiện hành. Với làng nghề truyền thống, ngoài những tiêu chí trên, phải có ít nhất một nghề truyền thống với ba tiêu chí: Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ hơn 50 năm và đang tiếp tục phát triển; nghề tạo ra sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc và nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề.

Ngày 7-5-2018, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 490/QĐ-TTg về phê duyệt Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) giai đoạn 2018 - 2020. Theo đó, Chương trình OCOP sẽ được tiến hành đồng bộ trên cả nước nhằm phát triển kinh tế khu vực nông thôn theo hướng phát huy nội lực và gia tăng giá trị. Đây cũng là giải pháp, nhiệm vụ then chốt trong triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2016-2020. Mục tiêu tới năm 2020, Chương trình OCOP sẽ tiêu chuẩn hóa ít nhất 50% số sản phẩm hiện có, tương ứng khoảng 2.400 sản phẩm; hoàn thiện tổ chức sản xuất theo hướng liên kết giữa hộ sản xuất với hợp tác xã và doanh nghiệp, triển khai 8 đến 10 mô hình “Làng văn hóa du lịch”; kiện toàn 100% doanh nghiệp, hợp tác xã tham gia; phấn đấu phát triển mới khoảng 500 doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã tham gia Chương trình OCOP.

Ngày 17-5-2018, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tổ chức triển khai Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) với tổng kinh phí dự kiến khoảng 45.000 tỷ đồng. “Mỗi xã một sản phẩm” nhưng có thể sản xuất cùng một loại sản phẩm, theo chu trình sáu bước, trên cơ sở nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân thụ hưởng” gồm: Tuyên truyền, hướng dẫn về OCOP; Nhận đăng ký ý tưởng sản phẩm; Nhận phương án, dự án sản xuất, kinh doanh; Triển khai phương án, dự án; Đánh giá và xếp hạng sản phẩm và Xúc tiến thương mại.

Sự phát triển bền vững làng nghề phụ thuộc quan trọng vào các chính sách hỗ trợ các làng nghề, nhất là về quy hoạch và mặt bằng kinh doanh, về cơ sở hạ tầng và công nghệ bảo vệ, xử lý môi trường; về vốn và về phát triển thương hiệu, ổn định đầu ra; gắn với quy hoạch và chiến lược tổng thể xây dựng NTM; lồng ghép trong triển khai Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về OCOP…nhằm phát triển các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh (ưu tiên phát triển hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ và vừa) để sản xuất các sản phẩm, dịch vụ có lợi thế đạt tiêu chuẩn, có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế, góp phần phát triển kinh tế nông thôn theo hướng phát triển nội lực và gia tăng giá trị, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao thu nhập, đời sống cho nhân dân và thực hiện hiệu quả nhóm tiêu chí “Kinh tế và tổ chức sản xuất” trong Bộ tiêu chí quốc gia về xã NTM giai đoạn 2016 - 2020, thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn hợp lý (giảm bớt tình trạng dân di cư ra thành phố), bảo vệ môi trường và bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống của Việt Nam.

Giải pháp đồng bộ cho phát triển bền vững

Yêu cầu phát triển bền vững làng nghề trong bối cảnh hội nhập đòi hỏi những nhận thức mới về giá trị kinh tế - văn hóa - xã hội và môi trường của làng nghề, những đột phá chính sách cần thiết và những giải pháp đồng bộ, phát huy động lực từ sự năng động, sức sáng tạo tự thân của cơ sở, cá nhân làng nghề và sự hỗ trợ của chính quyền, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị trong phát triển và quản lý hoạt động làng nghề…

Theo đó, cần nâng cấp cơ sở pháp lý cho quản lý và phát triển làng nghề, tiến tới xây dựng Luật Làng nghề hoặc Pháp lệnh Làng nghề; Đặc biệt, cần coi trọng và gắn phát triển làng nghề với “Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM và chương trình OCOP, phù hợp với quá trình tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế trên phạm vi cả nước và phù hợp thực tiễn mỗi địa phương, vùng miền; Coi đây như là một trọng tâm ưu tiên của chính quyền các cấp, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm, cải thiện thu nhập và bảo đảm an sinh xã hội địa phương, với gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa nghìn năm của dân tộc.

Bên cạnh đó, cần coi trọng bồi dưỡng kiến thức quản trị kinh doanh cho chủ hộ, doanh nghiệp làng nghề; đa dạng hóa hình thức đào tạo nghề, cả truyền nghề, cấy nghề và đào tạo nghề mới gắn với vùng nguyên liệu; Thường xuyên tổ chức phong tặng, công nhận khen thưởng và tôn vinh các danh hiệu làng nghề, như “Nghệ nhân Nhân dân”, “Nghệ nhân Ưu tú”, “Nghệ nhân làng nghề”, “Làng nghề tiêu biểu”, “Doanh nghiệp làng nghề tiêu biểu”, “Bảng vàng gia tộc nghề truyền thống”, “Sản phẩm làng nghề tiêu biểu”…

Hơn nữa, cần tăng cường công tác truyền thông, quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng về hoạt động của Hiệp hội và cộng đồng làng nghề cả nước; Tổ chức các địa điểm thường xuyên trưng bày sản phẩm tinh hoa làng nghề và các hoạt động triển lãm, hội chợ, khảo sát, giao lưu quốc tế để giới thiệu và mở rộng hợp tác với các tổ chức (nhất là sứ quán và đại diện thương mại), các cá nhân trong nước và quốc tế (kể cả Việt kiều)… tạo hợp lực mạnh mẽ và đa dạng hóa.

Đặc biệt, Hiệp hội làng nghề Việt Nam với 13.113 hội viên, cần tiếp tục mở rộng hội viên, kiện toàn tổ chức và chủ động kết hợp với các cơ quan chức năng địa phương, bám sát cơ sở để triển khai các Chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề; Chương trình phát triển doanh nghiệp làng nghề; Chương trình văn hóa, du lịch làng nghề… Những vấn đề này các cơ quan hữu quan của Hà Nội làm khá tốt, với nhiều phương án khác nhau. Trước mắt, các tỉnh, thành phố tập trung hỗ trợ các làng nghề về kết nối cung-cầu, về thiết kế, cải tiến mẫu mã sản phẩm, tăng cường các dịch vụ khuyến công và tư vấn hỗ trợ xây dựng, quảng bá và bảo vệ thương hiệu; ứng dụng công nghệ thông tin và thương mại điện tử, phát triển các kênh thông tin thị trường và tiếp cận với khách hàng, cập nhật và tuân thủ các yêu cầu bảo đảm chất lượng, an toàn sản phẩm và bảo vệ môi trường theo các cam kết và quy chuẩn chất lượng quốc gia và quốc tế.

Các làng nghề gắn với chiều dài lịch sử, tạo ra nhiều sản phẩm, tạo nhiều công ăn việc làm. Nhưng giá trị làng nghề không chỉ ở việc tạo ra việc làm và những giá trị kinh tế, mà cao hơn là sản phẩm làng nghề gắn với những giá trị của người Việt, từ văn hóa như ăn, mặc, tâm linh, sản xuất, nhà ở, văn hóa nghệ thuật.

TS NGUYỄN MINH PHONG