Mùa xuân bên kia triền dốc

Thứ Bảy, 13/01/2018, 12:30:43
 Font Size:     |        Print
 

Chị kéo va-li ra tới cổng vừa lúc chồng đi công tác về. Vài câu hỏi thờ ơ, hững hờ. Chồng quay lưng, mở vội cà-vạt, vào nhà. Không quan tâm chị đi bằng ô-tô cơ quan hay tàu, máy bay. Không cả việc hỏi xem chị có cần chở ra sân bay, ga. Mỗi người mỗi việc. Chồng với liên tục những buổi tiệc tùng khách khứa, những chuyến công tác trong và ngoài nước. Chị với những ngày rong ruổi vì nghiệp báo chí và viết lách. Từ bao lâu rồi họ không còn quan tâm đến giờ giấc, công việc của nhau? Từ khi nào đã không còn tặng nhau một nụ hôn tiễn biệt? Không còn những cuộc điện thoại thầm thì giữa khuya khó ngủ mỗi bận đi xa? Từ bao giờ đã thôi không bận tâm vì nhau nữa? Từ bao giờ?

Mà, sao phải suy nghĩ, phải lấy làm lạ vào lúc này khi mọi chuyện đã y hệt những mấy năm nay?

Chị kéo cánh cổng sắt. Tiếng ken két nặng nề. Rin rít và lạnh lùng. Che lấp luôn tiếng thở dài chị định chôn chặt.

Con bé gọi điện khi chị đang ngồi ta-xi. Cô ơi, tuần này cô lại đi công tác à? Ừ, cô đi công tác Quảng Nam con à, chủ nhật cô mới về. Thế tuần này Nếp không được gặp cô sao? Ừ, Nếp ngoan, khi nào sắp xếp được cô sẽ sang mà. Dạ. Giọng con bé buồn xo nhỏ hẳn. Hình như có tiếng anh nhắc khẽ nên con bé đổi giọng phấn chấn. Nếp sẽ ngoan, cô giữ gìn sức khỏe nha! Thôi, cúp máy đi con, đừng gọi làm phiền cô nhiều, cô bận việc mà. Lần này thì đúng là tiếng anh. Anh đang đứng cạnh con bé lúc ấy. Chị nghĩ đến đôi mắt buồn, sâu hun hút, vẻ mặt lúc nào cũng tư lự và cái dáng gầy gò của ba con bé. Có phải mình ngày càng bận lòng đến người đàn ông ấy? Không, chị xóa vội suy nghĩ vẩn vơ trong đầu. Chỉ là lo và nhớ bé Nếp đấy thôi!

***

Họ vẫn còn ngồi ăn cơm chung với nhau, thi thoảng. Tuần vài lần. Vì phần lớn các buổi tối chồng chị đi cùng đối tác và khách khứa. Chị thì ăn trưa cùng đồng nghiệp, chiều về nấu vội món gì đó ăn một mình. Thảng hoặc, chồng chị về nhà lúc đang lỡ bữa thì họ vẫn chung mâm. Bữa ăn thường nhàm chán và đơn điệu. Không hẳn vì thiếu thịnh soạn, không nhiều món. Có lẽ thiếu đồng điệu, thiếu gia vị yêu thương trong những đĩa thức ăn và không khí trên bàn ăn. Cả chuỗi yên lặng và tẻ nhạt. Ðôi khi gượng gạo. Cả hai nuốt vội vài chén, trao đổi vài lời về ngày mai, hoặc có khi không nói gì, ti-vi mở thật to. Mỗi người vừa ăn vừa cắm cúi dán mắt vào. Cứ vậy, và - họ vẫn là vợ chồng gần mười năm nay, vẫn chung mâm, chung nhà, chung giường, dù rất hiếm.

Trước, đôi lúc, chị cũng muốn làm một cái gì cho khác đi. Ngay cả chồng chị cũng thế, đã từng nỗ lực, chẳng hạn về nhà sớm hơn, còn chị mua nhiều thức ăn hơn, mở sẵn bản nhạc vui và nấu nhiều món chờ chồng về, nhưng vẫn chẳng cải thiện được gì. Tại sao? Sự nguội lạnh, hững hờ vĩnh viễn là vách ngăn lạnh lùng sẽ mãi kéo lê? Ðâm ra chị sợ cả những bữa ăn như thế. Chị đọc được điều ấy từ suy nghĩ của chồng. Tiệc tùng, đối tác, cuối ngày, cuối tuần lê la cùng đồng nghiệp nhiều lúc lại là giải pháp. Ðể đỡ gặp nhau. Những bữa ăn chung ngày một giảm đi, hết mức có thể, chỉ khi có khách hoặc gia đình hai bên ghé thăm thì chị mới vào bếp, chồng chị lại về đúng giờ. Vẫn sum quần, trò chuyện. Và họ mặc nhiên xem sự im lặng, không ầm ào, không đay nghiến, vặn vẹo, cũng không buông tay, như là sự tôn trọng tối giản, là điều tốt đẹp cuối cùng họ dành cho nhau trong cuộc hôn nhân này. Ðôi lúc, chị thử lý giải có lẽ vì sự thiếu vắng tiếng cười khóc của con trẻ chăng? Nhưng cũng không hẳn! Vả lại cách nghĩ ấy càng làm chị đau đớn bởi những giấc mơ mịt mờ đầy ám ảnh nên dần tập gạt đi, tập an nhiên. Sự an nhiên rất một mình, chông chênh.

Ngày Thỏ mới bỏ chị đi, chị thường có những giấc mơ. Những giấc mơ hoang hoải. Về một nơi nào đó không có thật. Xa vời, đầy tối tăm, u ám. Nhưng chị lại lặn lội đi tìm, chủ động đi tìm những ác mộng hãi hùng ấy, để rồi lần nào khi bật dậy giữa đêm khuya, hay giữa giấc trưa vật vã đều tê dại, trống vắng, rũ rục dù trong những giấc mơ ấy chị được gặp Thỏ. Thỏ bé bỏng của chị. Có hình hài, gương mặt bầu bĩnh, ánh mắt to tròn, mái tóc ngộ nghĩnh thắt bím rồi cuộn tròn dong dỏng hai bên. Thỏ của chị lúc hồn nhiên, ngơ ngác giữa mịt mù phía trước vẫy chị chạy theo, lúc nhập nhòa, tan biến cứ lùi dần, lùi dần bỏ chị. Chị xoài người lao theo, trên con đường ma mị ấy, và lần nào giấc mơ cũng kết thúc bằng một vệt máu lênh láng trong nhà tắm. Chị bụm tay, cố giữ những giọt máu bầm đen ấy lại, rồi nấc lên, điên dại, giữa sự thất thần, dằn vặt và cũng đau đớn chắc không kém từ chồng. Ánh mắt hốt hoảng không hiểu chuyện gì xảy ra của chồng chị. Sự ân hận lỡ nóng nảy không kiềm chế trong cơn giận và say đã mạnh tay xô chị. Chồng chị không lường được hậu quả, và lỗi cũng không hẳn chỉ do chồng. Chị biết, nhưng hình ảnh vệt máu loang loáng, sự uất ức, mất mát, đau đớn cả thể xác lẫn tinh thần đã làm chị lãnh cảm và khó thể quên đi, dù chị đã cố rất nhiều lần. Vĩnh viễn không xóa được cái cảm giác lịm đau khi thụp người vơ vội những nhầy nhụa máu. Vĩnh viễn cái cảm giác quặn cả tim gan khi nhìn máu chảy đỏ bắp vế, đỏ cổ chân, bàn chân, chảy xuống nền nhà tắm, và rồi ồ ạt, cuồn cuộn tuôn ra... Cái cảm giác giày vò khi đã đẩy đi một yêu thương, làm cho núm ruột của mình chới với không bấu víu được để tồn tại trong cơ thể mẹ, bị đẩy tống ra ngoài. Những khủng khiếp đó luôn xuất hiện trong giấc mơ hãi hùng của chị. Dẫu tháng ngày sau đó, chị đủ bình tĩnh và thấu hiểu để không dằn vặt chồng (bởi có người cha nào nỡ muốn mất đứa con đầu lòng). Cả hai né nhau, lảng tránh nhau, và lặng im hết mức có thể. Tôn trọng và giữ cho nhau hết sức có thể. Nhưng nỗ lực thế nào thì cũng là những nhàn nhạt gượng gạo. Phải chăng do sự cố ấy, hay do cả một cuộc tình quá vội chưa đủ mãnh liệt, sâu sắc để cảm thông? Và cũng không ai nghĩ đến chuyện buông tay. Vì trách nhiệm? Vì nghĩ đến những mệt mỏi để bắt đầu?
Hay vì nghĩ rồi cũng chẳng khác đi, ở tuổi này, khi đã quá nửa đời người?

Và lúc nỗi đau đã nằm yên trong một góc khuất sâu riêng chị, kể cả tái tê khi biết mình không còn cơ hội làm mẹ nữa sau đận ấy, chị cũng đủ sức bặm môi gồng mình chịu đựng. Với chị, không có một mất mát gì có thể làm chị gục ngã hơn khi chứng kiến Thỏ bé bỏng từng giọt, lênh láng rồi ồ ạt vỡ toang tuồn tuột khỏi cơ thể. Thỏ xinh xắn trong những giấc mơ là do chị tưởng tượng ra, hay do linh hồn bé bỏng, bơ vơ của con ám ảnh rồi vương vấn tìm về. Chị không biết. Chỉ biết rằng dù giấc mơ có hành hạ thế nào thì chị cũng không né tránh, vì chị sẽ gặp Thỏ, một hình hài đã rõ ràng, rất thật. Và rồi, sau này, khi gặp được Nếp, cũng đôi mắt to tròn, hai tai thỏ dong dỏng đáng yêu, lúc nhập nhòa, lúc hiện rõ lên, nhập lại thành một, Thỏ và Nếp, rồi còn lại Nếp. Chị tìm đến Nếp, như một sự vớt vát, để cứu rỗi cho mình, yêu con bé như núm ruột. Cũng từ dạo đó, những giấc mơ nhẹ nhàng hơn, không còn làm chị vật vã khi tỉnh dậy nữa. Lúc tỉnh giấc, thể nào chị cũng gọi điện nghe Nếp líu lo hoặc tìm cách tới thăm con...

***

Chị gặp mặt Nếp lần đầu khi chị và đồng nghiệp đến trường con quay phóng sự cho ngày Quốc tế Thiếu nhi. Trong hàng trăm những thơ ngây, trong trẻo ấy, đôi mắt chị cứ bị hút vào cô bé nhỏ với hai bím tóc ngộ nghĩnh lắt lẻo, đu đưa, đôi mắt to tròn, già dặn, khuôn má bầu bĩnh. Lồng ngực chị chợt đau nhói. Ðã thế, con bé còn nhìn chị chằm chằm, rất dạn dĩ sà vào lòng chị ríu rít, hỏi han khi thấy chị khuỵu xuống. Sao con quan tâm đến cô thế? Vì cô xinh đẹp ạ, vì cô trông giống mẹ con nữa cơ. Giống mẹ trong ảnh ý. Sao lại mẹ trong ảnh? Vì mẹ con đi xa thật xa từ hồi con bé tí mới sinh cơ! Rồi con bé nhỏ giọng. Là chết ấy cô à, nhưng bố con bảo đi xa cho con đỡ buồn đấy mà. Lòng chị lại quặn thắt trước tâm tình con bé. Bé tí đã già dặn và ra dáng lắm rồi. Con bé hỏi cả địa chỉ, cả số điện thoại, cả nơi chị làm, và chia tay bằng một cái ngoéo tay cùng giọng hứa chắc nịch: Con sẽ gọi điện cho cô! Và Nếp gọi thật. Chị đã coi đó là duyên. Và câu chuyện quen biết với cả ba con bé những ngày trước và sau đó cũng là duyên, dù khi gặp Nếp, chị chưa từng gặp anh và anh cũng chưa từng biết về mối quan hệ thân thiết giữa chị và con bé. Nhưng thật ra, họ đã biết nhau từ khi Nếp còn bế trên tay.

Người đàn ông đó gọi và gửi yêu cầu đến chương trình phát thanh Quà tặng cuộc sống chị phụ trách ba lần. Và lần nào cũng để lại trong chị một chút trăn trở về câu chuyện và chia sẻ của anh. Cuộc gọi của anh lẽ ra rất dễ nhập nhòa giữa hàng trăm cuộc gọi khác chị nhận được và đồng cảm, nhưng lòng chị chùng lại trước giọng nói ấm áp, khàn đặc vì xúc động. Tôi muốn dành tặng bài hát này cho vợ tôi. Cô ấy đang những ngày trong viện. Mọi thứ rồi sẽ ổn, rồi sẽ ổn vợ à! Như thể anh ấy đang trấn an cho cả bản thân mình. ...Cho tôi yêu em nồng nàn/ Cho tôi yêu em nồng nàn/ Dù tháng năm buồn vui bàng hoàng... Chị phát bài hát theo yêu cầu của anh cùng lời chúc cho may mắn, hạnh phúc đến với vợ anh, gia đình anh. Nhưng lời chúc đã không bao giờ thành sự thật. Vài ngày sau, cũng giọng người đàn ông này, và cũng chính bài hát ấy. Tôi gửi tặng bài hát này cho vợ tôi, dù giờ này cô ấy đang ở một nơi xa, rất xa, một mình... Hôm nay lại là sinh nhật cô ấy... Bài hát là kỷ niệm ngày đầu tiên chúng tôi gặp nhau, đã cùng nghe và... Chị nghe tiếng anh khóc trên điện thoại. ... Còn yêu chi hoa ngày xanh/ Héo hon vì mong manh/ Bỏ quên lại người sau ngỡ ngàng... Lẽ ra không phát trùng một ca khúc khi chỉ cách nhau mấy ngày, nhưng chị vẫn chọn để phát thanh bài hát chiều hôm ấy. Chị ấy không cô đơn đâu anh à, mà sẽ ấm lòng dù đang một mình nơi nào đó thật xa.

Không đúng sao? Khi bên nhau cũng đâu có nghĩa là gần? Thì xa xôi, cách trở có là gì khi họ luôn nghĩ về nhau? Và chị chợt thèm được như vợ anh, người phụ nữ đoản mệnh ấy. Ấm áp biết nhường nào!

Bao lâu rồi, chị không có được những lo lắng như thế từ chồng?

(Còn nữa)

Truyện ngắn của Lưu Thị Mười