Sức mạnh mềm làm nên sức hấp dẫn Việt Nam

Thứ Năm, 01/02/2018, 08:15:02
 Font Size:     |        Print
 

“Phát huy và nâng cao “sức mạnh mềm”, tăng cường “sức mạnh cứng”, tạo thành “sức mạnh thông minh” để Việt Nam không còn nằm trong vùng trũng của thế giới. Hãy làm cho đất nước bừng sáng hơn cả những thời kỳ bừng sáng nhất trong lịch sử”, nguyên Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển (ảnh bên) đã thẳng thắn nhìn nhận và định vị Thương hiệu Việt Nam cùng Nhân Dân hằng tháng...

Thưa ông, trong quan niệm của ông, Thương hiệu quốc gia có thể được diễn giải như thế nào?

Tôi không thích dùng cụm từ “thương hiệu” lắm, bởi lẽ nó rất dễ nhầm lẫn với thương hiệu hàng hóa. Một số người nghe tôi chia sẻ suy nghĩ này cũng đồng ý với tôi. Nhưng tôi vẫn sẽ dùng cụm từ đó, hy vọng, “trước lạ sau quen”, biết đâu, trong tương lai, khái niệm “thương hiệu quốc gia” sẽ được thừa nhận và sử dụng rộng rãi. Thương hiệu của một quốc gia là một tập hợp những cảm nhận của người trong nước và nhất là người nước ngoài về các phẩm chất đặc biệt, tạo ra sự khác biệt của người dân nước này, đất nước này với nhiều nước trên thế giới. Sự khác biệt này phải là sự vượt trội ở một hoặc một nhóm tiêu chí nào đó.

Vậy đâu là Thương hiệu Việt Nam và điều gì đã làm nên thương hiệu đó, thưa ông?

Trong lịch sử, dân tộc ta có truyền thống bất khuất chống kẻ thù xâm lược, giành và giữ độc lập. Hiếm có dân tộc nào lại phải liên tục đương đầu với những thế lực xâm lược ngoại bang hùng mạnh như dân tộc ta. Cũng hiếm có dân tộc nào lại có nhiều nữ anh hùng cứu nước như Việt Nam ta. “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh” đã trở thành đạo lý sống của người dân đất Việt. Có biết bao nữ anh hùng trong lịch sử chống ngoại xâm: Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Bùi Thị Xuân, là những tấm gương tiêu biểu thời cổ - cận đại. Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Thị Sáu, Nguyễn Thị Chiên, Bùi Thị Cúc, Nguyễn Thị Định, Võ Thị Thắng, Út Tịch, đội quân tóc dài ở miền nam...; các cô gái ở Ngã ba Đồng Lộc, Truông Bồn,... ở miền trung từ ngày có Đảng. Và, còn biết bao tên tuổi khác. Chính thắng lợi vẻ vang của nhân dân ta trong các cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã cổ vũ, khơi dậy phong trào nổi dậy chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới giành độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia ở các nước châu Á, châu Phi, và Mỹ la-tinh vào cuối những năm 50, đầu những năm 60 của thế kỷ trước.

Công cuộc đấu tranh chống ngoại xâm ngoan cường cũng tạo thành yếu tố làm nên sự khác biệt của Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử, thưa ông?

Không chỉ kiên cường bất khuất, dù phải hy sinh biết bao xương máu do tội ác dã man của kẻ thù nhưng với tác động giao thoa của Nho giáo và Phật giáo đã tạo cho người Việt Nam có lòng khoan dung, nhân ái: Khi kẻ thù bị đánh bại, cha ông ta vẫn cấp lương thực, ngựa, xe cho chúng về nước. Sau khi đất nước sạch bóng quân thù, Đảng ta đã chủ trương “Khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”. Chủ trương này được đồng bào cả nước đồng tình ủng hộ. Chúng ta coi người Việt dù sống ở đâu, không phân biệt quá khứ vẫn là con dân đất Việt, là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam, đúng tinh thần “Con Rồng cháu Tiên”, “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”. Chúng ta đã “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, Lấy chí nhân thay cường bạo” như thi hào Nguyễn Trãi viết trong Đại cáo bình Ngô. Chính từ tác động giao thoa đó, dân tộc ta có truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, “nhất tự vi sư, bán tự vi sư”; kính trọng tổ tiên, phụng dưỡng ông bà, cha mẹ; gắn kết chặt chẽ trong cộng đồng và sâu đậm tình làng nghĩa xóm. Là cái nôi của nền “văn minh lúa nước”, lại sống trong vùng khí hậu khắc nghiệt, luôn phải chống chọi với thiên tai, bão tố, người Việt chúng ta cần cù, chịu khó, có khả năng thích ứng cao với sự thay đổi của hoàn cảnh. Thực hiện đường lối đổi mới và chủ trương đa phương hóa và đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, “Việt Nam muốn là bạn, là đối tác tin cậy, có trách nhiệm của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế; phấn đấu vì hòa bình hợp tác và phát triển”, đất nước ta đã hội nhập sâu rộng trong một thế giới toàn cầu hóa và kết nối chặt chẽ. Tất cả đã tạo nên sự cộng hưởng tác động làm cho bản lĩnh, phẩm chất Việt Nam có khả năng hội tụ và lan tỏa. Tất cả những phẩm chất và thành tựu đó đã tạo nên “thương hiệu” Việt Nam. Sức cuốn hút, quy tụ của Việt Nam trên các diễn đàn khu vực và quốc tế, nhất là thành công của năm APEC 2017 mới đây do Việt Nam đăng cai tổ chức trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động với những quan điểm trái chiều chẳng phải là minh chứng hùng hồn đó sao?

Đại lộ Nguyễn Văn Linh (TP Hồ Chí Minh). Ảnh: Anh Dũng

Định vị Việt Nam trong hiện tại và tương lai, đưa Việt Nam bình đẳng phát triển cùng thế giới, chúng ta cần làm gì, thưa ông?

Trong quá trình nghiên cứu sự chuyển đổi quyền lực giữa các nước trên thế giới, nhất là giữa Trung Quốc và Mỹ, Joseph Nye, Giáo sư khoa Chính trị Trường Jon.F.Kennedy đã đưa ra khái niệm “sức mạnh mềm” (Soft power). Trên những nét khái quát nhất, và còn rất sơ lược, sức mạnh mềm là tập hợp các yếu tố, phản ánh nhân sinh quan, bản sắc văn hóa, thái độ sống, ứng xử của người dân một nước trong sự so sánh với nước khác, tạo nên sức hấp dẫn, truyền cảm hứng, cuốn hút họ trở thành đồng minh hoặc ủng hộ mình, tạo nên “quyền lực mềm”. Có thể nói, sức cuốn hút của Việt Nam từ trước đến nay chủ yếu là từ sức mạnh mềm. Từ sau đổi mới, sức mạnh cứng của đất nước tuy đã tăng lên đáng kể nhờ sự phát triển kinh tế với tốc độ cao liên tục trong hơn hai chục năm qua nhưng GDP và thu nhập bình quân đầu người nước ta vẫn còn nằm trong vùng trũng của thế giới. Sự đóng góp của sức mạnh cứng (tiềm lực kinh tế và quốc phòng) còn thấp. Chúng ta đang sống trong một thế giới phát triển rất nhanh, biến đổi không ngừng và cạnh tranh quyết liệt trong điều kiện cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 gõ cửa từng nhà; nước ta lại ở trong một khu vực địa chính trị đặc biệt nhạy cảm, nơi đang diễn ra cuộc cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn. Bối cảnh đó đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực phấn đấu, “tiến cùng thời đại”, “sánh vai với các cường quốc năm châu” như Bác Hồ mong muốn; xác lập vị thế mới của Việt Nam, làm cho “thương hiệu Việt Nam” ngày càng có sức lan tỏa mạnh mẽ. Muốn vậy, phải tiếp tục phát huy và nâng cao “sức mạnh mềm”, tăng cường “sức mạnh cứng”, tạo thành “sức mạnh thông minh” (Smart power).

Vậy bắt đầu từ đâu để cùng lúc phát huy sức mạnh mềm, tăng cường sức mạnh cứng để tạo thành sức mạnh thông minh như ông nói?

Daron Acemoglu, giáo sư Trường MIT và James A. Robinson, GS trường Harvard (Mỹ) là đồng tác giả cuốn sách: “Tại sao các quốc gia thất bại”. Trong cuốn sách này, hai ông chỉ rõ: Một quốc gia nghèo không phải là do thiếu tài nguyên, cũng không phải do thiếu vốn mà chủ yếu là do thể chế không tốt, không khơi dậy được các nguồn lực và khả năng sáng tạo của con người. Cũng với nhận thức đó, Đại hội XI của Đảng đã xác định ba đột phá chiến lược để đưa nước ta về cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 nhằm thực hiện mục tiêu “Xây dựng Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ công bằng, văn minh”. Đây chính là tầm nhìn, là khát vọng của chúng ta. Ngược dòng lịch sử, ông cha ta đã thể hiện vị thế của nước ta. Câu đối trong đền thờ Đinh Tiên Hoàng ở Hoa Lư đã hiên ngang khẳng định: “Cồ Việt quốc đương Tống Khai Bảo, Hoa Lư đô thị Hán Trường An”. Nghĩa là: “Nước Cồ Việt ngang hàng với nhà Tống đời Khai Bảo; Kinh đô Hoa Lư như Tràng An của Nhà Hán”. Trong Đại cáo bình Ngô, Nguyễn Trãi cũng viết: “Như nước Đại Việt ta từ trước/ Vốn xưng nền văn hiến đã lâu... Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập/ Cùng Hán, Đường Tống, Nguyên, mỗi bên hùng cứ một phương,...”. Ngày nay, với sự lãnh đạo của Đảng và sự phát triển rất nhanh, rất mạnh của khoa học - công nghệ - sự phát triển nhanh này - đưa đến hai hệ quả: Quy mô không bằng tốc độ và Tư duy mạnh hơn kinh nghiệm. Một nước đi sau như nước ta có thể đuổi kịp, hơn thế, vượt lên một nước đã có trình độ phát triển cao hơn nếu có tư duy và chiến lược phát triển đúng đắn. Chúng ta phải thực hiện quyết liệt, thiết lập cơ chế giám sát, bảo đảm việc thực thi, đo lường được kết quả cụ thể ba đột phá chiến lược này. Trong ba đột phá đó, đột phá về thể chế có vai trò và tác động lan tỏa lớn. Thể chế tốt sẽ khơi dậy, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, kể cả nguồn lực con người, vừa tạo ra “sức mạnh cứng”, vừa gia tăng “sức mạnh mềm”. Nó góp phần “Phát triển nguồn nhân lực, tập trung vào nguồn nhân lực chất lượng cao” khi chất lượng nguồn nhân lực chính là sức cạnh tranh dài hạn của một quốc gia, nhất là trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Thể chế và chất lượng nguồn nhân lực cũng sẽ tạo xung lực để “Phát triển kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông và hạ tầng các đô thị lớn” do khơi dậy được nguồn vốn xã hội, do tầm nhìn và chất lượng quy hoạch hệ thống nhờ chất lượng nhân lực tăng lên, đồng thời cũng tạo ra “sức mạnh cứng”, giúp giảm chi phí, tăng năng suất lao động xã hội, nâng cao giá trị gia tăng, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế. Nó cũng góp phần tạo ra sức mạnh mềm nhờ thúc đẩy giao lưu, hội nhập giữa các vùng miền, giữa các quốc gia. Tiềm năng gia tăng sức mạnh cứng ở nước ta còn rất lớn.

Tức là chúng ta hoàn toàn có thể lạc quan, hy vọng vào một vị thế Việt Nam ngày càng được nâng cao hơn trên bản đồ thế giới?

Nên nhớ rằng, từ một nước kém phát triển năm 1975; GDP/đầu người chỉ là 608 USD (thấp hơn mức 750 USD là chuẩn thu nhập tính theo đầu người để xác định nước kém phát triển theo tiêu chí của Liên hợp quốc), điều kiện tự nhiên lại khó khăn hơn Việt Nam nhưng chỉ trong chưa đầy một phần tư thế kỷ Hàn Quốc đã trở thành một nước phát triển thuộc OECD. Trong vòng 15 năm từ 1968 - 1982, nước này đạt tốc độ tăng GDP bình quân là 9,66%/năm và năm 2015 GDP tính theo đầu người của Hàn Quốc đã là hơn 27 nghìn USD. Cũng trong thời gian 15 năm, từ 1992-2006, Trung Quốc đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 10,46%/năm. Năm 2015, GDP bình quân/đầu người của họ là xấp xỉ 8.000 USD. Trong khi đó 15 năm từ năm 2000 đến 2014 tốc độ tăng GDP bình quân của Việt Nam chỉ là 6,38% và năm 2015, GDP bình quân đầu người của nước ta mới đạt 2.111 USD (*). Với mức này từ một nước có thu nhập thấp, Việt Nam đã bước vào ngưỡng cửa của những nước có thu nhập trung bình (thấp). Mặc dầu vậy, nguy cơ rơi vào bẫy “tự do hóa” và bẫy thu nhập trung bình đối với nước ta là rất hiện hữu, nếu chúng ta không có khát vọng và ý chí để thực hiện khát vọng. Không! Chúng ta có khát vọng! Như ông cha chúng ta đã từng khát vọng. Chúng ta dám đương đầu với thách thức như cha anh chúng ta đã đối đầu với thách thức khi dám đánh Mỹ, siêu cường có sức mạnh kinh tế và quân sự lớn nhất thế giới lúc bấy giờ. Có đối đầu với thách thức, chúng ta mới biết ta là thế nào và có thể làm được những gì! Xin được khẳng định lại, biết phát huy truyền thống đó, sẽ gia tăng sức mạnh mềm và góp phần tạo ra sức mạnh cứng của chúng ta, làm cho vị thế của Việt Nam ngày càng nâng cao trên trường quốc tế, “thương hiệu” Việt Nam in đậm hơn nữa trong tâm trí của bè bạn năm châu. Điều vui mừng là trong những năm gần đây, nhất là trong năm 2017, với phương châm “xây dựng một chính phủ kiến tạo, liêm chính, hành động, vì dân”, đất nước đã thu được những kết quả ấn tượng. Nadim Hitmet, nhà thơ lớn Thổ Nhĩ Kỳ đã viết: “Nếu tôi không cháy lên, Nếu anh không cháy lên, Thì làm sao, Bóng tối, Có thể trở thành, Ánh sáng”. Nước ta không còn là bóng tối nhưng vẫn là vùng trũng của thế giới và chưa thật bừng sáng. Hãy làm cho đất nước bừng sáng hơn cả những thời kỳ bừng sáng nhất trong lịch sử! Chúng ta cần phải và có thể làm được điều đó. Mọi người con đất Việt dù ở cương vị nào, sống và làm việc ở đâu hãy cháy lên ngọn lửa khát vọng, trui rèn bản lĩnh, khẩn trương hành động, năng động và sáng tạo để biến khát vọng thành hiện thực phát triển trên đất nước Việt Nam muôn vàn yêu dấu của chúng ta. Chào Xuân Mậu Tuất, tại sao chúng ta lại không tin rằng năm 2018 này sẽ tô đậm thêm “thương hiệu” Việt Nam trên bản đồ thế giới?

Trân trọng cảm ơn và chia sẻ niềm tin, sự lạc quan cùng ông trong năm mới!
______________

(*) Nguồn WB và Viện Chiến lược, Bộ KH-ĐT.

NGÔ HƯƠNG SEN (Thực hiện)