Chuyển giao kỹ thuật giúp nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh tuyến dưới

Thứ Sáu, 08/12/2017, 19:51:49
 Font Size:     |        Print
 

Các bác sĩ Trung tâm Tim mạch (Bệnh viện Nhi T.Ư) và Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Quảng Ninh phẫu thuật tim bẩm sinh cho một trẻ sơ sinh.

Gần bốn năm triển khai đề án bệnh viện vệ tinh (BVVT) đã đem lại những kết quả tích cực với hàng nghìn kỹ thuật cao trong chăm sóc, điều trị bệnh cho người dân được các bệnh viện tuyến trên chuyển giao cho tuyến dưới. Nhờ đó, các bệnh viện, thầy thuốc tuyến dưới được nâng cao uy tín, trình độ chuyên môn thu hút người bệnh và giảm tình trạng quá tải cho bệnh viện tuyến trên.

Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Quảng Ninh là một trong những hình mẫu tiêu biểu về cách làm và hiệu quả của mô hình BVVT. Từ năm 2014 đến nay, Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Quảng Ninh là BVVT của Bệnh viện Nhi T.Ư. Với vai trò là bệnh viện hạt nhân (BVHN), Bệnh viện Nhi T.Ư đã xây dựng kế hoạch đào tạo, chuyển giao kỹ thuật; tư vấn trong mua sắm trang thiết bị y tế. Bệnh viện Nhi T.Ư đã cử nhiều lượt cán bộ là các giáo sư, chuyên gia đầu ngành xuống kiểm tra, giám sát, đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ, chuyển giao kỹ thuật, hội chẩn, phẫu thuật cấp cứu... Kết quả sau hai năm, Bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh đã phát triển nhanh chóng về chuyên môn kỹ thuật, triển khai được nhiều kỹ thuật cao, kỹ thuật chuyên sâu về lâm sàng và cận lâm sàng của tuyến trung ương; giúp gần 98% số người bệnh thuộc chuyên khoa phụ sản và nhi khoa được khám và điều trị tại tỉnh không phải chuyển tuyến trên. Nhiều kỹ thuật lâm sàng mới được triển khai như phẫu thuật nội soi một lỗ, phẫu thuật nội soi lồng ngực trẻ dưới 12 tháng, lọc máu liên tục trẻ sơ sinh, thở máy HFO... hay các kỹ thuật cận lâm sàng như xét nghiệm Real-time PCR chẩn đoán các chủng vi-rút, vi khuẩn, xét nghiệm sàng lọc sơ sinh, sàng lọc ung thư sớm, sàng lọc trước sinh, xét nghiệm tiền sản giật...

Từ những kết quả của giai đoạn thí điểm (2013-2015), Ðề án BVVT giai đoạn 2016-2020 đã được nhân rộng ra cả nước với 23 BVHN trên toàn quốc và hơn 100 BVVT tại 62 tỉnh, thành phố, trong đó tất cả bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh là vệ tinh của bệnh viện tuyến trên. Ðáng chú ý, một số bệnh viện đa khoa của các huyện Mường Khương (Lào Cai), Mộc Châu (Sơn La), Quảng Xương (Thanh Hóa)... cũng tham gia mạng lưới BVVT. Theo PGS, TS Lương Ngọc Khuê, Cục trưởng Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế), việc các bệnh viện tuyến huyện tham gia Ðề án BVVT là tín hiệu đáng mừng và đáng khích lệ, khẳng định sự năng động của các bệnh viện tuyến huyện khi tham gia đề án để nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh phục vụ người dân ngay tại địa phương.

Quá trình triển khai cho thấy, các BVHN đã khảo sát rất kỹ nhu cầu khám, chữa bệnh của các BVVT, tập trung vào các nhóm bệnh chuyển tuyến, các nhóm bệnh cần điều trị tại chỗ, hạn chế vận chuyển như cấp cứu tim mạch, cấp cứu sản khoa, chấn thương sọ não… Sau khi khảo sát, các BVHN và BVVT thống nhất các gói kỹ thuật cần thiết, gói kỹ thuật phụ trợ để chuyển giao. Các BVHN chuẩn bị chương trình đào tạo, đề cương chuyển giao kỹ thuật, cử cán bộ có trình độ cao thực hiện chuyển giao kỹ thuật. BVVT cũng chuẩn bị nhân lực, kíp bác sĩ, điều dưỡng đi học, nhận chuyển giao kỹ thuật. Sau khi được đào tạo, chuyển giao, kíp kỹ thuật sẽ về thực hiện kỹ thuật tại địa phương dưới sự hướng dẫn, giám sát của bác sĩ BVHN. Các đơn vị cũng đã thiết lập được hệ thống công nghệ thông tin và kết nối giữa BVHN với BVVT; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin (Telemedicine) bảo đảm toàn bộ số BVVT thường xuyên kết nối đào tạo, hội thảo, tư vấn khám bệnh, hội chẩn từ xa với BVHN.

Nhờ triển khai đề án BVVT, đến nay tình trạng nằm ghép tại các bệnh viện đã được cải thiện; thời gian chờ khám bệnh giảm; người dân được khám, chữa bệnh với kỹ thuật cao tại nhiều BVVT, bệnh viện tuyến tỉnh; tỷ lệ người bệnh chuyển lên tuyến trên giảm từ 73% đến 99% theo các chuyên khoa. So với trước khi triển khai đề án, một số chuyên khoa giảm mạnh như Tim mạch (giảm 98,5%); Ung thư (giảm 97%); Ngoại khoa (giảm 98,5%); Sản khoa (giảm 99%); Nhi khoa (giảm 73%).

Bộ Y tế đề ra mục tiêu đến năm 2018, tất cả các bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh, thành phố tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh cam kết thực hiện chủ trương không để người bệnh nằm ghép từ hai người trở lên sau 24 hoặc 48 giờ nhập viện. Ðến năm 2020, không còn tình trạng quá tải bệnh viện (đạt mục tiêu đề ra của Ðề án giảm quá tải bệnh viện). Ðể đạt các mục tiêu đó, một trong những giải pháp quan trọng là tiếp tục mở rộng mạng lưới BVVT. Bộ Y tế cũng yêu cầu các bệnh viện tuyến trên tăng cường chuyển giao kỹ thuật và chuyên môn cho tuyến dưới, coi đây là một nhiệm vụ quan trọng, một tiêu chí đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm vụ hằng năm của các bệnh viện. Ðồng thời công bố danh sách các bệnh viện đủ tiêu chuẩn làm BVHN để các BVVT lựa chọn đề xuất hỗ trợ chuyên môn; khẩn trương ban hành quy định để các chuyên gia, bác sĩ giỏi ở các BVHN có trách nhiệm tham gia khám, chữa bệnh ở các BVVT. Không phân biệt bệnh viện nhà nước hay bệnh viện tư nhân trong lựa chọn BVHN cũng như BVVT. Ðẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng hệ thống hỗ trợ y tế từ xa (Telemedicine) trong việc hội chẩn, hỗ trợ chuyển giao kỹ thuật, tư vấn, hội thảo, đào tạo giữa các bệnh viện. Thực hiện chế độ cơ sở y tế tuyến trên định kỳ cử chuyên gia, bác sĩ đến khám, chữa bệnh tại cơ sở tuyến dưới, nhất là ở các vùng khó khăn; chế độ luân phiên có thời hạn đối với người hành nghề tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

TRUNG HIẾU

Chia sẻ