Chủ động chọn, tạo và sản xuất giống thủy sản

Thứ Tư, 07/03/2018, 18:50:06
 Font Size:     |        Print
 

Trại giống cần có cơ sở vật chất phù hợp từng loại thủy sản.

Những năm gần đây, mặc dù diện tích nuôi trồng thủy sản ở các tỉnh phía bắc ổn định ở mức hơn 200 nghìn héc-ta, nhưng nhờ chất lượng con giống ngày càng tăng cả về số lượng, chủng loại, góp phần tăng giá trị sản phẩm trên một héc-ta mặt nước. Thành công này đóng góp không nhỏ vào việc nghiên cứu sản xuất giống thủy sản.

Đa dạng hóa đối tượng nuôi

Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I Viện I là đơn vị đầu ngành trong lĩnh vực nghiên cứu sản xuất giống thủy sản trên cả nước, nhất là đối với các tỉnh phía bắc. Những năm vừa qua, Viện đã phối hợp với các đơn vị, trung tâm, trạm trại sản xuất giống thủy sản, nhằm cung cấp con giống tốt cho người nuôi, góp phần từng bước chủ động về con giống, rút ngắn thời gian nuôi, nâng cao sản lượng trên cùng diện tích mặt nước, đưa nghề nuôi trồng thủy sản trở thành ngành sản xuất chủ lực cung cấp nguyên liệu cho chế biến xuất khẩu và tiêu dùng trong nước.

Những sản phẩm khoa học của Viện I không những giúp nghề nuôi thủy sản tại các địa phương chủ động, ổn định về số lượng, chất lượng con giống cá nước ngọt như rô phi, cá chép,… vốn phổ biến trong ao hồ, mà còn cho "ra lò” sinh sản nhân tạo một số loại cá quý hiếm thuộc danh mục các loài có nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo tồn, như cá lăng chấm, cá chiên, cá anh vũ, cá rầm xanh, cá chạch sông… được nhiều Trung tâm giống thủy sản ở các tỉnh phía bắc như Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Bắc Giang, Nam Định, Phú Thọ, Hòa Bình, Thanh Hóa… tiếp nhận.

Viện I đã chủ động nghiên cứu đưa vào sản xuất hàng hóa nhiều loài cá biển có giá trị kinh tế cao như: cá song chấm, song chuột, song vằn, cá giò, cá hồng Mỹ, cá chim vây vàng, được nhiều doanh nghiệp, ngư dân nuôi với quy mô lớn. Viện tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện, nâng cao hiệu quả sản xuất giống một số loài cá biển có giá trị kinh tế cao như: cá song chuột, cá song vằn, cá song da báo, cá hồng vân bạc. Đáng chú ý, Viện còn nghiên cứu cho sinh sản thành công cá song vua trong điều kiện nhân tạo, từ giai đoạn cá bột lên cá hương, cá giống, với kích thước 6 đến 8 cm/con, cung cấp cho nuôi thương phẩm tại các tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng, Nghệ An... và cho song lai giữa cá song vua và cá song hổ, mở hướng phát triển đa dạng các loài cá biển nuôi có giá trị kinh tế cao.

Viện I cùng các Viện II, Viện III, các Trung tâm thủy sản khác chủ động nguồn con giống đưa giá trị sản phẩm nuôi trồng thủy sản đạt tốc độ tăng bình quân 17,1%/năm, trong đó vùng đồng bằng sông Hồng đạt 24,3%, Bắc Trung Bộ và duyên hải miền trung 21,9%, trung du, miền núi phía bắc 21,6%...

Nâng tầm sản phẩm quốc gia

Không chỉ dừng lại trong nghiên cứu, sản xuất cá nước ngọt, mặn, được sự quan tâm của Nhà nước, các tổ chức khoa học công nghệ, nhất là “tiếng gọi” từ thị trường về nhóm cá nước lạnh, như cá tầm, cá hồi, vốn chủ yếu phải nhập khẩu từ Nga, Ca-na-đa, từ năm 2005, Viện I đã triển khai Dự án sản xuất giống, nuôi thử nghiệm cá nước lạnh tại Thác Bạc, Sa Pa, tỉnh Lào Cai. Đến nay, theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Thủy sản, đã có 22 tỉnh đang nuôi cá hồi, cá tầm, tập trung ở các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Yên Bái, Thái Nguyên, Bắc Giang, Phú Thọ... Trong đó nhiều trại nuôi có sử dụng sản phẩm giống của Viện I.

Tuy nhiên nhu cầu cá tầm giống phục vụ nuôi thương phẩm khu vực phía bắc khoảng 200 nghìn con/năm, trong khi năng lực cung cấp của Viện I mới chỉ đáp ứng được khoảng 15% nhu cầu. Cá hồi vân cũng là một trong những đối tượng cá nước lạnh có giá trị cao, ước tính cần khoảng 1 triệu con giống/năm, nhưng năng lực sản xuất giống của Trung tâm nghiên cứu thủy sản nước lạnh mới chỉ đáp ứng được 50%. Vì vậy Viện I hợp tác với các nhà khoa học Phần Lan để nghiên cứu chọn giống cá hồi vân, nhằm đáp ứng nhu cầu cá giống của các tỉnh phía bắc, nghiên cứu sản xuất giống cá hồi vân tam bội thể.

Đơn vị đã chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng từng bước tháo gỡ vướng mắc trong cơ chế quản lý chương trình chọn, tạo giống, tạo ra những sản phẩm mang tầm cỡ quốc gia. Chú trọng đào tạo nguồn nhân lực để hình thành đội ngũ nhà khoa học trẻ, nhiệt huyết có chuyên môn sâu về lĩnh vực di truyền chọn giống, sản xuất giống, bảo đảm đủ năng lực quản lý và triển khai các chương trình đề tài, dự án. Tập trung đầu tư cho các trang, thiết bị, phần mềm phân tích phục vụ nghiên cứu di truyền chọn giống thủy sản mới, cũng như các kỹ thuật di truyền phân tử hiện đại trong chọn, tạo và sản xuất giống thủy sản phù hợp với từng vùng, miền.

Viện I đã phối hợp với các địa phương, cơ quan quản lý tổ chức quy hoạch, xây dựng các tiêu chí, văn bản quản lý về điều kiện đối với cơ sở nuôi, sản xuất giống; Xây dựng tiêu chuẩn VietGap cho các đối tượng cá hồi, cá tầm. Từ đó áp dụng và tăng cường quản lý đầu tư phát triển cá nước lạnh theo hướng công nghệ cao, khắc phục tình trạng nuôi tự phát, không theo quy hoạch, tạo điều kiện để xây dựng thương hiệu “cá hồi”, “cá tầm” là những sản phẩm đặc hữu của ngành thủy sản Việt Nam. Từng bước hình thành những kênh chế biến và tiêu thụ sản phẩm, xuất khẩu ra thị trường khu vực và thế giới.

VŨ KIỀU VÀ LAM NGỌC

Chia sẻ