Xây dựng trục ba sản phẩm chủ lực ngành nông nghiệp

Thứ Tư, 22/03/2017, 02:44:41
 Font Size:     |        Print
 

Kiểm tra sự phát triển của cây thanh long tại HTX Tầm Vu, thị trấn Tầm Vu (Châu Thành, Long An). Ảnh: ÐĂNG KHOA

(Tiếp theo kỳ trước) (*)

Bài 2 Chiến lược cho ngành hàng đặc sản

Các sản phẩm đặc sản chủ lực của mỗi địa phương được xác định là trục thứ hai của ngành nông nghiệp. Tuy vậy, do đặc thù vùng miền, tập quán, hoặc tư duy của nhà quản lý, cho nên loại hình sản phẩm này thành công cũng có, nhưng thất bại cũng nhiều, và giống nhau ở một điểm chung, hầu hết đều thiếu đầu ra, thiếu thị trường.

Thừa thương hiệu, thiếu đầu ra

Nằm ở phía đông bắc tỉnh Bắc Ninh, huyện Quế Võ có điều kiện tự nhiên khá thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, nhất là cây khoai tây. Trưởng phòng Nông nghiệp huyện, Nguyễn Thị Thu Hiền cho biết: Với diện tích 15.484 ha, trong đó đất nông nghiệp là 8.725 ha, những năm qua, diện tích trồng cây khoai tây đang chuyển dần từ sản xuất manh mún sang quy mô lớn, tập trung, nhất là sau khi được công nhận là nhãn hiệu hàng hóa tập thể của huyện. Riêng vụ đông - xuân năm 2016 - 2017, Quế Võ có 1.670 ha trồng khoai tây. Mặc dù diện tích chỉ bằng một phần mười so với diện tích cây lúa, song hằng năm khoai tây cho sản lượng và mang lại giá trị lớn hơn nhiều.

Từ 2013 đến nay, giá 1 kg khoai tây thương phẩm bình quân các thương lái mua tại ruộng dao động từ 6.300 đồng/kg đến 13.000 đồng/kg. Thu nhập bình quân 1 ha khoai tây tăng từ 120 triệu đồng năm 2010 đến 170 triệu đồng/ha/năm. Nếu có công nghệ bảo quản bảo đảm để không bị ép giá, thì với khoảng 20.000 tấn mỗi năm, sẽ tăng thêm nguồn thu cho nông dân trong huyện từ 40 đến 50 tỷ đồng. Tuy nhiên, vấn đề nan giải nhất là khâu tiêu thụ, nhìn chung còn tự phát, nhỏ lẻ, chưa có nhiều HTX liên kết. Từ năm 2016, thời điểm người dân được mùa khoai thì thị trường lại mất giá, khiến bà con không tiêu thụ hết sản lượng, phải đem bán dọc quốc lộ 18…

Lý giải nguyên nhân tình trạng này, ông Nguyễn Ðức Vinh, chủ của 7,2 ha trồng khoai tây tại thôn Mạo Yên (xã Phượng Mao) cho biết: Vì khoai tây Quế Võ có uy tín trên thị trường và có sức tiêu thụ mạnh, nên đã xảy ra tình trạng khoai tây không rõ nguồn gốc đội lốt. Nhất là sự trà trộn của khoai tây Trung Quốc, được thương lái đưa về bán tại đây, khiến giá khoai Quế Võ bị ép xuống chỉ còn từ 4.000 đến 5.000 đồng/kg.

Có vị trí địa lý liền kề Bắc Ninh là tỉnh Lạng Sơn, không chỉ nổi tiếng với na dai, lợn quay… mà còn có đặc sản chủ lực khác là hồi. Với diện tích 33.503 ha hồi, lớn nhất cả nước, trong đó có hơn 10.000 ha đang cho thu hoạch, chiếm 70% nguồn nguyên liệu cung ứng cho chế biến các sản phẩm gia vị theo tiêu chuẩn hồi tự nhiên. Nhưng người trồng hồi xứ Lạng đang gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là "đầu ra".

Thời kỳ bao cấp, thông qua Công ty Xuất nhập khẩu Lạng Sơn (Laximex Lạng Sơn), hoa hồi được thu mua theo chỉ tiêu kế hoạch nhà nước để xuất khẩu, trả nợ. Nhưng hiện nay, không nhiều công ty thương mại sẵn sàng xuất khẩu hồi sang các thị trường cao cấp, hồi xứ Lạng chủ yếu xuất sang Trung Quốc theo đường tiểu ngạch, rẻ và giá trị thấp. Từ năm 2007, dù cây hồi xứ Lạng đã được cấp Chỉ dẫn địa lý và được Nhà nước bảo hộ, nhưng nhiều doanh nghiệp không muốn hoặc chưa sẵn sàng cộng tác với Hội sản xuất, chế biến và kinh doanh hồi Lạng Sơn để gắn nhãn, mác. Vì vậy, hồi xứ Lạng có thương hiệu, nhưng thị trường vẫn là một câu hỏi khó kéo dài hàng chục năm nay.

Tương tự như khoai tây Quế Võ và hồi Lạng Sơn, sản phẩm mãng cầu (na) Tây Ninh đã được cấp Chỉ dẫn địa lý từ giữa năm 2016, nhưng cũng bí đầu ra. Ðến thăm vườn mãng cầu của ông Huỳnh Biên Chiêu, ở ấp Thạnh Hiệp (xã Thạnh Tân, TP Tây Ninh), chúng tôi được biết, hiện ông có 17,3 ha trồng mãng cầu, nhưng chỉ có 5 ha có chỉ dẫn địa lý và được sản xuất trên tiêu chí VietGap. Giá thương lái thu mua tại vườn đối với mãng cầu VietGAP thường cao hơn từ 5.000 đến 6.000 đồng/kg so với giá sản phẩm mãng cầu trồng theo mô hình truyền thống. Thế nhưng, ở một số thời điểm (trừ lễ, Tết), nông dân vẫn phải chấp nhận bán mãng cầu VietGAP bằng với giá mãng cầu "không VietGAP". Nguyên nhân, do sản phẩm mãng cầu sản xuất theo quy trình VietGAP chưa có nhãn, mác để chứng minh, cho nên thường bị ép giá, đánh đồng với các sản phẩm mãng cầu khác. Ông Huỳnh Biên Chiêu chia sẻ: "Mãng cầu giao cho thương lái thường không được báo giá tại vườn, mà sau khi đưa đến chợ đầu mối, buôn bán xong thì bà con mới được biết giá, vì vậy thường bị ép giá và cũng không biết sản phẩm của mình đi về đâu. Nguyện vọng của nông dân là được ký kết thu mua sản phẩm mãng cầu VietGAP, được hỗ trợ kỹ thuật, phân bón chất lượng và cách bảo quản trái mãng cầu hiệu quả".

Chọn sản phẩm đặc sản

Tình trạng một số loại nông sản chủ lực của địa phương có thương hiệu, nhưng vẫn bí đầu ra không phải hiếm. Nguyên nhân do sự phát triển tự phát, thiếu chiến lược dài hơi, bài bản, chạy theo phong trào. Mặc dù các địa phương đã chủ động trong đầu tư xây dựng thương hiệu, mở rộng sản xuất, nhưng vì thiếu hệ thống chân rết để phân phối sản phẩm, phụ thuộc toàn bộ thương lái, chi phí dành cho khâu trung gian lại quá cao, cho nên người trực tiếp sản xuất phải chịu thiệt đơn thiệt kép.

Từ thực tế này, khi phát triển sản phẩm chủ lực, các tỉnh, thành phố cần có những chiến lược tổng thể trong quy hoạch, thực hiện, đặc biệt, phải thay đổi tư duy nhà quản trị để bám sát thực tiễn thị trường. Trước hết, mỗi tỉnh, thành phố không nên "làm đại trà", mà phải định vị cho được đâu là sản phẩm thật sự "chủ lực", là "đặc sản" của địa phương để tập trung xây dựng.

Nhận thấy vấn đề này, gần đây tỉnh Lạng Sơn đã xây dựng "Quy hoạch phát triển vùng cây nguyên liệu gắn với chế biến và xuất khẩu đến năm 2020 và tầm nhìn 2030". Theo đó, vùng nguyên liệu hồi được tập trung ở những địa bàn trọng điểm, gồm các huyện Văn Quan, Bình Gia, Văn Lãng, với tổng diện tích hơn 20 nghìn ha. Ðặc biệt, địa phương đang kiến nghị xây dựng tại chỗ những cơ sở chuyên sản xuất, chế biến với thiết bị hiện đại, quy mô tầm cỡ, đủ khả năng thu mua, bao tiêu toàn bộ sản lượng hồi nguyên liệu của Lạng Sơn và các tỉnh khác, để cho ra những sản phẩm đạt chất lượng đồng nhất, phù hợp các tiêu chuẩn nhập khẩu của từng thị trường chính.

Hay tại tỉnh Long An, Giám đốc Sở NN và PTNT Lê Văn Hoàng cho biết: Trong quá trình tái cơ cấu nền nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, tỉnh tập trung các mặt hàng nông sản chủ lực gồm "bốn cây" là lúa, rau, thanh long, chanh không hạt và "bốn con" là thủy sản, gia cầm, bò thịt, heo. Tuy nhiên, xét các lợi thế và các giới hạn tự nhiên, từ năm 2020, Long An chỉ tập trung tái cơ cấu "ba cây và một con" là lúa, rau, thanh long và bò thịt. Với mục tiêu đến năm 2020 có 20.000 ha lúa, hơn 2.000 ha thanh long, khoảng 2.000 - 3.000 con bò thịt được sản xuất, nuôi theo công nghệ cao và VietGAP.

Ngoài ra, công tác xúc tiến thương mại, quảng bá thương hiệu sản phẩm, liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản giữa các địa phương, các vùng miền cũng cần được coi trọng, đẩy mạnh. Có thể viện dẫn một địa phương đã làm tốt khâu này là huyện Ðức Trọng, tỉnh Lâm Ðồng. Không chỉ chú trọng đầu tư, ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, huyện Ðức Trọng luôn quan tâm thực hiện, hạn chế tối đa việc sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, với hình thức liên kết được áp dụng, gồm: Công ty liên kết với công ty hoặc liên kết với hợp tác xã, tổ hợp tác, các đại lý thu mua, trang trại, nông dân; các đại lý thu mua liên kết với hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, nông dân. Toàn huyện hiện có hơn 40 doanh nghiệp thu mua, chế biến nông sản, hoa và các sản phẩm chăn nuôi có liên kết tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; hơn 20 vựa thu mua rau, củ, quả các loại; hơn 80 vựa mỗi ngày thu mua từ 1.000 đến 2.000 tấn rau tươi để cung ứng cho các tỉnh miền nam, miền trung, thị trường Cam-pu-chia, Trung Quốc… Trên địa bàn huyện có 19 tổ hợp tác và 15 hợp tác xã nông nghiệp tham gia tích cực vào chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.

(Còn nữa)

 -----------------------------

(*) Xem Báo Nhân Dân từ số ra ngày 21-3-2017.

Ðể làm tốt công tác kết nối thị trường, đẩy mạnh tiêu thụ hàng nông sản địa phương, cần tăng cường hỗ trợ doanh nghiệp thông qua các hình thức. Thứ nhất, doanh nghiệp dành một phần vốn để hỗ trợ địa phương triển khai các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo như: cấp nước, xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển sinh kế. Thứ hai, dựa trên kế hoạch hoạt động của mình, các doanh nghiệp chuyển hướng đầu tư để hình thành các chuỗi giá trị và xây dựng ngành hàng mới. Thứ ba, các ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính cho doanh nghiệp vay vốn để phát triển sản xuất, kinh doanh.

TS Ðặng Kim Sơn

Chuyên gia nông nghiệp

TÂM THỜI, QUANG QUÝ VÀ THÁI SƠN

Chia sẻ