Khơi thông nguồn vốn cho đầu tư phát triển

Thứ Hai, 13/05/2019, 02:20:59

Tính đến cuối năm 2018, tỷ lệ dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng đã bằng 130% GDP trong khi quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu mới chỉ tương đương 71,6% GDP; tổng giá trị trái phiếu niêm yết trên thị trường đạt 1,1 triệu tỷ đồng, tương đương với 20,3% GDP. Sự thiếu cân bằng giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn tiếp tục gây áp lực lên hệ thống ngân hàng.

Tín dụng trung, dài hạn chiếm 50,6%

Ông Phạm Hồng Sơn, Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (CKNN) cho biết, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam mới có từ năm 2000 nhưng đã có bước phát triển nhanh và tương đối bền vững với mức tăng trưởng bình quân 25%/năm. Ở thời điểm năm 2010, giá trị vốn hóa thị trường chiếm 52,5% GDP thì đến năm 2018, quy mô thị trường vốn đã lên đến 111% GDP, thu hút hơn 1.000 doanh nghiệp (DN) niêm yết.

Tuy nhiên, sự mất cân đối giữa kênh cung ứng vốn ngân hàng và thị trường vốn còn rất lớn. Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) Ðào Minh Tú cho biết, nhu cầu vốn trung, dài hạn của doanh nghiệp để mở rộng và phát triển sản xuất, kinh doanh ở mức cao, nhưng thị trường vốn chưa phát triển đầy đủ cả về quy mô và chất lượng để có thể đáp ứng. Do đó, vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế chủ yếu vẫn phải dựa vào hệ thống ngân hàng, tín dụng trung, dài hạn chiếm tỷ trọng khoảng 50,6% tổng dư nợ. "Do đó, để đáp ứng nhu cầu vốn trung, dài hạn của các DN nói riêng và nền kinh tế nói chung, phát triển TTCK là điều kiện tất yếu, giảm dần lệ thuộc vào tín dụng ngân hàng, nhất là các nhu cầu vốn trung, dài hạn", ông Ðào Minh Tú nhấn mạnh.

Về thị trường vốn, thông tin từ Bộ Tài chính cho biết, tính đến cuối năm 2018, thị trường cổ phiếu đạt 71,9% GDP, thị trường trái phiếu đạt hơn 39% GDP. Ðối với thị trường trái phiếu, giao dịch chủ yếu vẫn ở trái phiếu Chính phủ với quy mô đạt hơn 27% GDP, trái phiếu DN mới chỉ đạt 8,6% GDP và tăng lên khoảng 9,2% vào quý I - 2019. Trong khi đó, thị trường bảo hiểm cũng duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 25% mỗi năm. Ðến cuối năm 2018, quy mô của thị trường bảo hiểm đã đạt hơn 3% GDP đối với doanh thu bảo hiểm gốc. Các DN bảo hiểm đã đầu tư trở lại nền kinh tế hơn 300.000 tỷ đồng. Trong thực tế, một số sản phẩm chậm được ra mắt hoặc đã có trên thị trường nhưng chưa thu hút được nhà đầu tư: trái phiếu DN ở trong tình trạng có hàng nhưng người dân không biết, không đầu tư; mô hình quỹ hưu trí tự nguyện đã được Chính phủ cho chủ trương thực hiện từ năm 2016 nhưng đến nay vẫn chưa hình thành trong khi thị trường rất mong chờ...

Cần hình thành văn hóa xếp hạng tín nhiệm

Ðể đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế, sự chuyển dịch nguồn lực từ thị trường tiền tệ sang thị trường vốn là xu hướng tất yếu. Kỳ vọng vào sự tăng trưởng mạnh mẽ của thị trường trái phiếu DN và quỹ hưu trí tự nguyện trong thời gian tới, các chuyên gia kinh tế cho rằng cần phải có những chính sách cụ thể để thu hút tiền nhàn rỗi trong dân vào kênh này, thay vì thói quen gửi tiền vào tài khoản tiết kiệm ở hệ thống ngân hàng. Bên cạnh đó, trong tổng tài sản của ngân hàng (tương đương khoảng 199% GDP) có khoảng 79% là tiền gửi của tổ chức. Nếu có giải pháp thu hút dòng vốn của 79% này để chuyển sang gửi tiết kiệm trung và dài hạn ngay tại hệ thống ngân hàng cũng là giải pháp tốt để khơi thông vốn cho đầu tư phát triển.

Ông Ðỗ Ngọc Quỳnh, Tổng Thư ký Hiệp hội Thị trường Trái phiếu Việt Nam cho rằng, không thể kỳ vọng tăng quy mô thị trường bằng cách tất cả DN đều phát hành trái phiếu. Bởi kinh nghiệm ở các nước có thị trường tài chính phát triển trên thế giới cho thấy, chỉ có một số DN phát triển đến độ nhất định mới phát hành trái phiếu. Còn đối với DN mới hình thành và phát triển thì kênh huy động vốn là các quỹ. "Ma-lai-xi-a có đến 70% GDP là trái phiếu DN nhưng chỉ có khoảng 30 DN lớn phát hành trái phiếu, DN vừa và nhỏ không tham gia", ông Quỳnh dẫn chứng. Còn vấn đề của Việt Nam là cần hình thành văn hóa xếp hạng tín nhiệm để minh bạch thông tin, kích thích nhà đầu tư chuyên nghiệp và có năng lực tham gia thị trường. Từ năm 2016, Bộ Tài chính đã có quy định về xếp hạng tín nhiệm và đã có công ty được cấp phép hoạt động trong lĩnh vực này, nhưng đến nay vẫn chưa thể phát triển. Bên cạnh đó, cần có sự phối hợp liên bộ trong phát triển thị trường trái phiếu, có kế hoạch làm việc định kỳ hằng tháng để kịp thời giải quyết vướng mắc. Vì hiện nay, cơ chế phối hợp liên ngành để phát triển thị trường trái phiếu DN đang rất chậm.

Liên quan sản phẩm hưu trí tự nguyện, Bộ Tài chính cho biết đang có hai sản phẩm là bảo hiểm và quỹ hưu trí tự nguyện, hướng tới hai mục tiêu quan trọng là phát triển xã hội và tạo nguồn vốn cho DN. Trong đó, đã có sáu trong số 18 DN cung cấp sản phẩm bảo hiểm hưu trí với tổng tài sản đạt 2.677 tỷ đồng. Nhưng đối với quỹ hưu trí tự nguyện, đến nay mới có duy nhất một DN đề xuất cấp phép hoạt động kinh doanh và đang được Bộ Tài chính xem xét. Quỹ này chưa được triển khai như mong muốn bởi chỉ có thể hình thành khi DN có chính sách cho người lao động và người dân cũng có nguồn lực tài chính nhất định. Nhiều quốc gia cần từ 30 đến 50 năm để hình thành quỹ, cho nên muốn thành công, Việt Nam cần có cơ chế, chính sách phù hợp và sự đồng hành từ cả DN, người dân. Nhấn mạnh đây là một trong số những kênh dẫn vốn được đánh giá là hiệu quả cho nền kinh tế, ông Andy Ho, Giám đốc điều hành kiêm Trưởng Bộ phận đầu tư Tập đoàn VinaCapital kiến nghị, cần giảm thuế đối với cá nhân, tổ chức tham gia quỹ, đồng thời tăng cường cung cấp thông tin giúp người dân hiểu được sự an toàn, lợi ích khi tham gia đầu tư.

TÔ HÀ