Những trang sử yêu nước của Việt kiều ở Thái-lan và Lào

Thứ Sáu, 17/09/2010, 08:56:00

Trung tướng Dương Cự Tẩm - người có nhiều kỷ niệm gắn bó với phong trào Việt kiều yêu nước Lào - Thái-lan nhớ lại.

Tháng 11-1945, tôi cùng các anh Ðỗ Huy Rừa - sinh viên luật, Hoàng Xuân Bình và Lê Trọng Thời là sinh viên y khoa, được Bộ Quốc phòng cử sang Thái-lan mua vũ khí tiếp tế cho Nam Bộ. Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Vũ Anh gọi tôi lên, viết giấy giới thiệu sang ngân hàng nhận nửa triệu đồng tiền Ðông Dương, tương đương 1.000 lạng vàng. Trong điều kiện khó khăn của chính quyền non trẻ bấy giờ, đây là số tiền rất lớn. Tôi sang ngân hàng thì hết tiền mặt, chỉ còn loại năm hào. Tôi phải chạy đến các tiệm bánh quen ở phố Hàng Ðào nhờ anh em công nhân vận động các chủ tiệm, đổi thành tiền loại 10 đồng, 20 đồng để dễ dàng mang đi.

Ðể sang được Thái-lan mua vũ khí, chúng tôi  phải vượt qua đất Lào. Trước tiên, chúng tôi hẹn gặp nhau ở Huế. Tôi là đảng viên duy nhất trong đoàn, được phân công giữ tiền và được Bộ Quốc phòng cấp một thẻ "hỏa tốc" đặc biệt ưu tiên. Muốn sang Thái-lan phải qua Savanakhet. Mà lúc đó, quân Pháp đã trở lại Nam  Lào, cắt đứt con đường này. Nhưng theo quy định của quân Ðồng Minh, từ vĩ tuyến 17 trở ra thuộc quyền kiểm soát của quân đội Tưởng Giới Thạch nên dù có trở lại, quân Pháp ở Lào vẫn "dưới cờ" quân Tưởng. Bộ Chỉ huy quân sự  Huế làm cho tôi một căn cước giả và tôi mặc giả người Tàu để đi. Tài xế xếp cho tôi ngồi ở trước, bên cạnh một thiếu úy của quân Tưởng về Huế công tác, trở sang Lào. Va-li tiền tôi để dưới chân. Nhờ có học chữ nho nên tôi bút đàm với viên thiếu úy Tưởng này. Anh ta tỏ ra rất thích thú. Xe hành khách 25 chỗ ngồi chạy qua những khu rừng toàn cây dầu. Thỉnh thoảng có vài tên lính Pháp mang súng chặn xe kiểm tra nhưng thấy viên thiếu úy Tưởng, chúng gật đầu chào, để xe qua. Ðến Savanakhet, ông Nguyễn Văn Tiến, Chủ tịch Hội Việt kiều ở Thái-lan chờ sẵn, đón tôi. Thở phào nhẹ nhõm, thế là tôi hoàn thành nhiệm vụ. Mấy ngày sau, các anh Bình, Rừa, Thời cũng sang.

Ở Thái-lan bấy giờ có phong trào du kích chống phát-xít Nhật do đảng Seri Thay lãnh đạo. Tổng hội Việt kiều có quan hệ tốt với đảng này. Mỹ đã thả vũ khí tiếp tế cho du kích Thái-lan, nhưng Nhật vừa đầu hàng đồng minh nên số vũ khí  đó không sử dụng.

Vì thiếu cán bộ, ông Nguyễn Văn Tiến yêu cầu tôi ở lại và tôi được cử làm chính trị viên Bộ chỉ huy Việt kiều giải phóng quân tỉnh Thakhec (Lào). Ba anh Bình, Rừa, Thời tiếp tục lo việc mua vũ khí. Anh Nguyễn Chánh vốn là lính khố xanh của Pháp, sau cách mạng, đã đưa lính về gia nhập giải phóng quân, được phân công làm chỉ huy trưởng ở Thakhec.

Sau Hiệp định Sơ bộ 6-3-1946, từ Nam Lào, quân Pháp tấn công lên phía bắc bằng máy bay, xe tăng, cơ giới. Liên quân Việt - Lào được thành lập từ cuối năm 1945, đã chống trả ngoan cường. Nhưng do quân Pháp quá mạnh, phòng tuyến bị chọc thủng. Ðêm 21-3-1946, mặt trận Thakhec bị vỡ, Chính phủ kháng chiến của Hoàng thân Suphanuvong phải vượt sông Mê Công thoát sang Thái-lan  lánh nạn. Lê Thiệu Huy đi chung với Hoàng thân trên cùng một chuyến đò. Sau lưng họ, quân Pháp đuổi theo bắn đạn như vãi trấu. Trong tình thế hiểm nghèo, tham mưu trưởng Lê Thiệu Huy đã lấy thân mình chắn đạn cho Hoàng thân, Chủ tịch Suphanuvong thoát hiểm. Anh hy sinh ngay trong vòng tay của Hoàng thân.

Anh Lê Thiệu Huy, từ bé đến lớn rất chăm học luôn bỏ xa các bạn đồng môn, và thường học vượt cấp một năm hai ba lớp. Năm 1939, mới 19 tuổi, anh đã tốt nghiệp một lúc ba bằng cử nhân loại ưu tại Paris - một thành tích vang dội mà trước anh, trong lịch sử đại học, chưa một sinh viên Pháp nào từng dám mơ vươn tới nổi. Một nhà toán học lừng danh thời bấy giờ là giáo sư Bra-sê, người Pháp gốc Do Thái đã phải ngợi khen: "Tôi  chưa bao giờ thấy có sinh viên nào xuất chúng hơn Lê Thiệu Huy, cũng không dám mơ sẽ gặp người thứ hai tài ba đến vậy".

Nhưng chiến tranh  thế giới bùng nổ, anh Huy tìm đường về nước tham gia cách mạng. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, anh được cử sang Lào giúp bạn xây dựng lực lượng kháng chiến và trở thành Tham mưu trưởng Liên quân Việt - Lào - một tướng quân thực thụ - khi mới 26 tuổi. Nghe tin con hy sinh, Cụ Lê Thước đã đau đớn viết bài thơ khóc con với những câu đầy bi thương nhưng rất hào hùng:

Theo gươm nghĩa liệt soi ba nước
Uổng kiếp tài hoa mới nửa đời
Phơi phới trời Tây hồn cố quốc
Quân thù chưa giết hận
                        chưa nguôi.

Năm 1957, Chính phủ ta đã truy tặng liệt sĩ Lê Thiệu Huy Huân chương Quân công hạng ba. Năm 1991, Chính phủ Lào truy tặng anh Huân chương Ðộc  lập hạng nhất.

Tháng 5-1946, có lệnh tập hợp quân giải phóng chiến đấu ở Lào, tôi cùng Nguyễn Chánh, Lê Quốc Sản, Ðỗ Huy Rừa được giao nhiệm vụ tổ chức, huấn luyện. Tại chiến khu Noọng-ke, trong vòng 10 ngày, đã lựa chọn và tập trung được hơn 400 chiến sĩ trong số những người tình nguyện từ các cơ sở Việt kiều, thành chi hội Trần Phú. Anh Nguyễn Chánh làm Chi đội trưởng, tôi làm Chính trị viên, hai anh Lê Quốc Sản và Ðỗ Huy Rừa làm Chi đội phó. Chi đội được tổ chức thành bốn đại đội, hoạt động dưới danh nghĩa công nhân làm đường để che mắt chính quyền Thái. Qua Tổng hội Việt kiều, chúng tôi cũng nhận thầu xây dựng một con đường dài 10 km từ Noongkhai ra Phanom. Ban ngày làm đường, ban đêm bí mật ra cánh đồng mới gặt để tập luyện. Hậu cần đều do Việt kiều ở Thái-lan tiếp tế.

Sự đóng góp của Việt kiều ở Thái-lan và Lào lúc đó cũng như trong suốt hai cuộc kháng chiến đối với Tổ quốc là rất lớn. Cả sức người lẫn của cải vật chất. Việt kiều Thái - Lào  đã ghi thêm những trang sử vàng vào lịch sử truyền thống yêu nước của dân tộc. Sự hình thành khối người Việt ở Thái - Lào có đặc điểm lịch sử riêng, mà nổi rõ nhất là dân tị nạn sau khi phong trào Cần Vương bị thất bại, đến  Xô Viết Nghệ Tĩnh bị đàn áp dã man và công nhân khai thác mỏ ở Lào, phu làm đường nối ba nước Ðông Dương. Vì vậy, lòng căm thù giặc ngoại xâm và tinh thần yêu nước luôn nung nấu trong họ. Nhiều nhà cách mạng đã sang Thái-lan bí mật hoạt động trong sự che chở, giúp đỡ của Việt kiều.

TRẦN DUY TÂN

Theo