Nhandan en ligne
Môi trường
Chi trả dịch vụ môi trường rừng, góp phần ổn định đời sống người dân
Thứ sáu, 01/03/2013 - 12:55 AM (GMT+7)
 
Cán bộ Hạt Kiểm lâm huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái tuần tra bảo vệ rừng. Ảnh: TRẦN HẢI

Sau hơn bốn năm thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về chính sách thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng, đã có nhiều địa phương triển khai và làm tốt công tác này, giúp người dân vùng có rừng tăng thêm thu nhập, ý thức trách nhiệm bảo vệ và phát triển rừng được nâng cao. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những bất cập về công tác triển khai, cách thức thực hiện cũng như cơ chế, chính sách trong quản lý.

 

Ghi nhận từ một địa phương làm thí điểm

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, tỉnh Sơn La đã áp dụng thí điểm cho 157 xã của chín huyện, thành phố gồm Phù Yên, Mộc Châu, Yên Châu, TP Sơn La, Mai Sơn, Bắc Yên, Thuận Châu, Quỳnh Nhai, Mường La là lưu vực của thủy điện Hòa Bình với tổng diện tích rừng được xác định là 422 nghìn ha. Qua đó, tỉnh cũng xác định hai loại dịch vụ chi trả dịch vụ môi trường rừng là dịch vụ điều tiết và cung ứng nguồn nước và dịch vụ bảo vệ đất, hạn chế xói mòn, chống bồi lắng lòng hồ.

Trao đổi ý kiến với chúng tôi về công tác triển khai thu phí dịch vụ bảo vệ môi trường rừng của địa phương, Giám đốc Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Sơn La Lương Ngọc Hùng cho biết, mặc dù đã đạt được nhiều thành tích, song toàn tỉnh hiện có tới hơn 50 nghìn chủ rừng, diện tích rừng của địa phương vừa rộng lớn vừa phức tạp nên việc triển khai công tác này hiện nay gặp nhiều khó khăn, trong đó có cả kinh phí lẫn nhân lực. Ngay từ năm 2008, Sơn La được Chính phủ chọn làm thí điểm về công tác thu phí dịch vụ bảo vệ môi trường rừng. Tỉnh có nhiều chính sách quản lý, bảo vệ rừng hiệu quả nên mấy năm trở lại đây, cả diện tích và chất lượng rừng đều được nâng lên. Tuy nhiên, do chưa có kinh phí để hỗ trợ cho các chủ rừng cho nên khẩu hiệu "Sống được bằng nghề rừng" vẫn chưa thật sự mang lại hiệu quả thiết thực cho đời sống bà con nông dân có rừng. Sơn La có nhiều thuận lợi do diện tích rừng lớn, người dân sống bằng nghề rừng cũng cao, bên cạnh đó còn có nhà máy thủy điện, song khó khăn hiện tại là chưa xác định được rõ tiêu chí rừng nào, chủ rừng nào được hưởng lợi từ Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng. Do đó, chưa thật sự khuyến khích được người chăm sóc, bảo vệ rừng. Hiện nay, tỉnh đang tiến hành thực hiện phát triển Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng ở cả ba cấp. Cấp xã sẽ tiến hành xác định các chủ rừng, loại rừng được hưởng dịch vụ, sau khi được phê duyệt sẽ mở tài khoản, niêm yết công khai danh sách tại các thôn, bản và thông báo cho các chủ rừng. Sau mười ngày, nếu không có ý kiến phản hồi, xã sẽ tiến hành chi trả tiền dịch vụ dựa trên sổ giao đất, giao rừng của các chủ rừng. Ðây là một trong những cách làm hay, hiệu quả, nhất là đối với một địa phương có nhiều rừng, địa bàn rộng lớn và phức tạp như Sơn La.

Chúng tôi đến xã Pá Lông, một xã vùng sâu, vùng xa của huyện Thuận Châu, Chủ tịch UBND xã Trá Trua Và cho biết, vài năm trở lại đây, từ khi có chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, các hộ dân có rừng trong xã luôn nhận được tiền hỗ trợ từ Nhà nước. Năm 2012, xã cũng nhận được hơn 10 triệu đồng tiền bảo vệ rừng do tỉnh tạm cấp. Tuy số tiền không nhiều, song cũng góp phần giúp đỡ đồng bào dân tộc thiểu số trong xã có kinh phí để chăm sóc và bảo vệ rừng hiệu quả. Bí thư Ðảng ủy xã Ly Sếnh Chứ cũng khẳng định, với hơn 2.460 nhân khẩu của 500 hộ dân sống chủ yếu bằng nghề rừng, Pá Lông là một xã vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn. Trước đây, một số thôn bản, bà con còn trồng cây thuốc phiện, nay cùng với công tác tuyên truyền vận động của cán bộ là các chính sách hỗ trợ kinh tế của Nhà nước, trong đó có chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng nên toàn xã hiện không còn hộ nào trồng cây thuốc phiện nữa. Nhiều hộ gia đình đã có thể sống được bằng nghề chăm sóc bảo vệ rừng. Tuy đời sống vẫn còn khó khăn, song đây là một chủ trương đúng, khuyến khích người dân vùng cao từng bước góp phần ổn định kinh tế, xã hội. Không riêng gì ở xã Pá Lông, huyện Thuận Châu, xã Cà Nàng, huyện Quỳnh Nhai; xã Ngọc Chiến, huyện Mường La; xã Chiềng Khoa, huyện Mộc Châu... cũng đang là các địa phương dẫn đầu tỉnh Sơn La trong công tác chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng và làm tốt tuyên truyền vận động bà con các dân tộc bảo vệ và phát triển rừng hiệu quả.

Một trong những đơn vị làm tốt việc cung ứng dịch vụ môi trường rừng của tỉnh là Công ty Thủy điện Sơn La. Năm 2012, doanh nghiệp này đã thực hiện rất nghiêm túc việc chuyển tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng để Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam điều phối đến các địa phương trong diện chi trả. Năm nay, ngay từ đầu năm, doanh nghiệp này cũng đã ký ủy thác chi trả dịch vụ môi trường rừng góp phần tạo điều kiện cho ngành nông nghiệp điều phối cho các địa phương, trong đó có Sơn La để giải ngân đến các chủ rừng, hộ gia đình, cá nhân nhận giao khoán bảo vệ rừng, góp phần cải thiện sinh kế cho một bộ phận không nhỏ người dân sống phụ thuộc vào nghề rừng trong lưu vực.

Chi trả đến đúng người cung ứng dịch vụ

Người dân và các tổ chức chăm sóc bảo vệ rừng là các đối tượng được thụ hưởng từ dịch vụ môi trường rừng, song thực tế đến nay tại nhiều địa phương việc triển khai công tác này còn tỏ ra lúng túng, bị động. Khác với Sơn La, hiện nay tỉnh Hòa Bình là một trong số các tỉnh có lòng hồ sông Ðà, nơi cung cấp thủy điện cho hai doanh nghiệp thuỷ điện lớn nhất cả nước là Sơn La và Hòa Bình, hiện đang gặp nhiều khó khăn về công tác triển khai ký kết hợp đồng ủy thác thu phí dịch vụ môi trường rừng với các đơn vị, doanh nghiệp thuộc diện cung ứng. Thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt đề án triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, ngày 10-1-2012, UBND tỉnh Hòa Bình đã có quyết định phê duyệt Kế hoạch hoạt động triển khai thực hiện chính sách này. Theo đó, tỉnh đã ban hành quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo; thành lập Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Hòa Bình. Tuy vậy, tính đến cuối tháng 1-2013, tỉnh Hòa Bình mới chỉ thu được hơn 11 tỷ đồng từ quỹ chi trả dịch vụ môi trường rừng năm 2011, 2012, do Quỹ chi trả dịch vụ môi trường rừng Trung ương ủy thác, trong đó đã chi tạm ứng cho các chủ rừng tại 20 xã thuộc lưu vực hồ Hòa Bình gần 4,6 tỷ đồng, tương ứng với 48 nghìn ha rừng. Trong khi đó, địa phương tự thu tiền từ dịch vụ này đến nay chưa có kết quả, do việc xúc tiến ký kết hợp đồng ủy thác chi trả dịch vụ môi trường rừng của địa phương diễn ra rất chậm và đạt hiệu quả thấp. Theo ông Bùi Xuân Nhẫn, Giám đốc Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng Hòa Bình thì đến nay, hầu hết các doanh nghiệp là đối tượng có sử dụng dịch vụ môi trường rừng năm 2011, 2012 theo lưu vực nội tỉnh chưa thực hiện nghĩa vụ theo quy định. Bên cạnh đó, mặc dù được coi là địa phương có tiềm năng trong việc thu phí dịch vụ môi trường rừng, nhưng tính đến thời điểm này, tiền ủy thác từ EVN, Hòa Bình lại là tỉnh thu được thấp nhất so với bốn tỉnh Ðiện Biên, Lai Châu, Sơn La và Yên Bái, mới chỉ đạt được 4,3%. Hòa Bình là tỉnh có tới 70% diện tích rừng tự nhiên, trong đề án thì chỉ có 49 nghìn ha rừng được hưởng phí dịch vụ bảo vệ môi trường rừng, trong khi thực tế con số này qua khảo sát là hơn 69 nghìn ha. Ðây cũng là một bất cập và thiệt thòi cho các đối tượng thực hiện công tác bảo vệ và phát triển rừng của địa phương.

Trao đổi ý kiến với một số hộ dân ở xã Ðồng Ruộng, huyện Ðà Bắc được biết, bình quân mỗi gia đình mới được hơn 50 nghìn đồng/ha/năm từ tiền bảo vệ rừng, đây là số tiền quá ít và người dân không thể sống được nếu chỉ trông chờ vào công tác chăm sóc, bảo vệ rừng. Ðể trang trải cuộc sống, nhiều hộ gia đình còn phải trồng thêm tre, nứa để khai thác bán lấy tiền. Tuy nhiên, tiềm năng loại cây lâm sản này rất lớn nhưng thực tế thu nhập của người dân lại thấp do đường sá đi lại khó khăn cho công tác vận chuyển và thu mua. Phó Chủ tịch UBND xã Hiền Lương Ðinh Văn Huy cho biết, chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng rất phù hợp đối với việc khuyến khích người có rừng sống được bằng nghề rừng, giúp họ bảo vệ rừng hiệu quả, song việc chi trả hiện nay còn quá thấp chưa tương xứng với công sức người dân bỏ ra, quả thực nếu không có thêm các nghề phụ thì người dân trong xã chưa thể sống được bằng nghề rừng.

Thực tế cho thấy, hiện nay người dân các địa phương có rừng đã ý thức hơn trong việc bảo vệ rừng, người được khoán rừng của các tổ chức cũng đã có sự phối hợp chặt chẽ hơn giữa đơn vị chủ rừng với chính quyền địa phương trong công tác bảo vệ rừng. Thu nhập từ rừng của người dân vùng có rừng cũng từng bước được cải thiện. Tình hình phá rừng, lấn chiếm đất rừng, khai thác lâm sản trái phép tại các khu vực rừng áp dụng chi trả dịch vụ môi trường rừng đã giảm đáng kể. Việc thu tiền từ phí chi trả dịch vụ môi trường rừng đang có tác động tốt đến các chủ rừng. Tuy nhiên, một trong những việc cần phải làm hiện nay là phải chi trả đến đúng người cung ứng dịch vụ. Do đó, để các địa phương không bị lúng túng trong việc triển khai thực hiện, cần có hướng dẫn cụ thể, sự chỉ đạo thường xuyên trực tiếp từ các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Lãnh đạo Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng một số địa phương cho rằng, để thực hiện tốt chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng, trước mắt các bộ, ngành cần sớm ban hành văn bản hướng dẫn cơ chế quản lý sử dụng tiền chi trả dịch vụ theo Nghị định 99/2010/NÐ-CP ngày 24-9-2010 của Chính phủ về chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và thông tư hướng dẫn Nghị định số 05/2008/NÐ-CP ngày 14-1-2008 của Chính phủ về Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng. Bên cạnh đó cũng cần rà soát, ra các văn bản hướng dẫn về công tác giải ngân, thanh quyết toán nội dung kinh phí quản lý của các chủ rừng là tổ chức, cơ chế về thanh tra, kiểm soát, thủ tục hồ sơ thực hiện chi trả dịch vụ môi trường rừng. Có như vậy, việc triển khai thực hiện công tác chi trả dịch vụ môi trường rừng mới đạt hiệu quả, khuyến khích người dân tích cực tham gia công tác bảo vệ và phát triển rừng. Và, hơn thế nữa để chính họ có được cuộc sống ổn định từ nghề rừng.

 

VŨ THÀNH


logo