Nhandan en ligne
Chuyện làm ăn
Ðác Nông chuyển giao khoa học - kỹ thuật cho nông dân
Thứ hai, 10/08/2009 - 09:42 AM (GMT+7)
 
Vườn hồ tiêu của gia đình anh Y Xuân ở Bon Bu N Drung, huyện Đác Song cho năng suất cao.

Hiệu quả bước đầu

Ðác Nông có diện tích đất sản xuất nông nghiệp hơn 225 nghìn ha, chủ yếu là đất đỏ ba-dan màu mỡ, thích hợp cho việc phát triển các loại cây công nghiệp dài ngày như cà-phê, cao-su, hồ tiêu, điều, ca-cao và trồng rừng sản xuất... Một thời gian dài trước đây, do giá các loại nông sản, nhất là giá cà-phê, tiêu, điều trên thị trường tăng cao, cho nên người dân chỉ chú trọng mở rộng diện tích mà chưa quan tâm đầu tư, ứng dụng KHKT vào thâm canh nâng cao năng suất, chất lượng, dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp. Năm 2004, giá trị sản xuất bình quân chỉ đạt 12 triệu đồng/ha, đời sống người dân gặp nhiều khó khăn. Ðể giúp nông dân nâng cao hiệu quả sử dụng đất, đầu năm 2006, Hội Nông dân, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN và PTNT) Ðác Nông ký chương trình phối hợp đẩy mạnh tuyên truyền, vận động cán bộ, hội viên, nông dân tích cực ứng dụng tiến bộ KHKT vào sản xuất, chăn nuôi để nâng cao hiệu quả kinh tế. Ngoài ra, Hội Nông dân phối hợp các ngành liên quan triển khai các hoạt động hướng dẫn, hỗ trợ nông dân ứng dụng KHKT vào sản xuất. Từ đó đến nay, hằng năm, các hội nghị, lớp tập huấn, các cuộc hội thảo đầu bờ, đầu chuồng, các điểm trình diễn kỹ thuật... thường xuyên được tổ chức. Tính từ đầu năm 2008 đến tháng 6-2009, các cấp Hội Nông dân phối hợp các ngành liên quan tổ chức 799 lớp tập huấn chuyển giao tiến bộ KHKT về sản xuất, chăn nuôi cho gần 50 nghìn lượt nông dân. Trong đó, tập huấn về IPM 81 lớp, cho 4.072 lượt người; nuôi trồng thủy sản 141 lớp,  6.668 lượt người tham gia; trồng trọt 320 lớp, với 18.700 lượt người tham gia; tổ chức 145 cuộc hội thảo đầu bờ, đầu chuồng thu hút 8.114 lượt người dự... Việc chuyển giao tiến bộ KHKT đã góp phần làm tăng diện tích đất sản xuất và nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng, vật nuôi. Nếu năm 2005, toàn tỉnh mới có 200 nghìn ha đất sản xuất nông nghiệp, với giá trị sản xuất tạo ra từ ngành nông nghiệp là 3.421 tỷ đồng thì đến cuối năm 2008 diện tích đã tăng lên hơn 225 nghìn ha, trong đó có 105 nghìn 356 ha cây trồng hằng năm và 119 nghìn 888 ha cây lâu năm, giá trị tạo ra tăng lên 4.709 tỷ đồng. Giá trị sản xuất tạo ra trên một ha đất canh tác tăng gấp hai lần từ 12 triệu đồng/ha lên 24 triệu đồng/ha.

Tại các huyện trọng điểm trồng cây công nghiệp như Ðác Min, Ðác Song, Ðác R'lấp, thị xã Gia Nghĩa... các cấp Hội Nông dân phối hợp với Viện Khoa học - Kỹ thuật nông-lâm nghiệp Tây Nguyên thường xuyên tổ chức các mô hình chuyển giao biện pháp canh tác như: kỹ thuật tuyển chọn, nhân giống cà-phê, kỹ thuật tỉa cành, tạo hình, ghép cải tạo cà-phê vối, quản lý dinh dưỡng, những điều cần biết về thu hoạch, chế biến cà-phê, hạt tiêu... cho nông dân ứng dụng vào sản xuất, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng.

Chủ tịch Hội Nông dân huyện Ðác Min, Ðinh Viết Giá cho biết: Ðác Min là huyện có diện tích cà-phê lớn nhất tỉnh với 18 nghìn 420 ha. Trước đây, do nông dân trồng theo phong trào, cho nên năng suất cà-phê bình quân chỉ đạt khoảng hai tấn cà-phê nhân/ha, thậm chí ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số chỉ đạt khoảng 1-1,5 tấn/ha. Những năm gần đây, nhờ ứng dụng KHKT vào thâm canh, cho nên năng suất bình quân tăng lên từ 2,5 đến 3 tấn/ha. Tại một số xã như Ðức Minh, Ðức Mạnh, Thuận An, Ðác Lao, Ðác Sắc (huyện Ðác Min); Ðác Môn, Ðác Hòa, Ðác N'Drung, Nam Bình (huyện Ðác Song)...; nhiều nông dân đã ứng dụng có hiệu quả KHKT trong việc chọn lọc, lai tạo các giống cà-phê mới, thực hiện các biện pháp kỹ thuật thâm canh như chế độ bón phân hợp lý, xác định lượng nước tưới thích hợp, tiết kiệm cho cà-phê kinh doanh, trồng xen các loại cây lâu năm trong vườn cà-phê, tiêu nhằm tạo bóng mát, sử dụng đúng liều lượng thuốc trừ sâu bệnh... do Viện Khoa học - Kỹ thuật nông-lâm nghiệp Tây Nguyên chuyển gia. Nhờ vậy, năng suất cà-phê đạt tới năm tấn cà-phê nhân/ha, năng suất tiêu đạt từ 3 đến 3,5 tấn/ha... Việc ứng dụng tiến bộ KHKT đối với cây cà-phê góp phần đưa diện tích cà-phê của tỉnh đến nay tăng lên hơn 71 nghìn ha, năng suất bình quân đạt 19,6 tạ/ha, tăng 0,9 tạ/ha.

Về xã Ðác Hòa (huyện Ðác Song) hỏi ông Phan Ðình Thắng, ở thôn 5, nhiều người biết ông. Trong những năm qua, ông là người đi đầu trong việc ứng dụng KHKT vào thâm canh cây cà-phê, năng suất vườn cà-phê gia đình ông luôn đạt từ 4,5 đến 5 tấn cà-phê nhân/ha. Chỉ với diện tích ba ha, mỗi năm trừ chi phí đầu tư, gia đình ông lãi hơn 200 triệu đồng. Còn anh Y Xuân, ở bon Bu N'Drung, xã Ðác N'Drung (huyện Ðác Song) mặc dù đất nương rẫy nhiều, nhưng trước đây chỉ biết trồng sắn và các loại cây hoa màu ngắn ngày nên chỉ đủ ăn. Sau khi được tham gia các lớp tập huấn chuyển giao tiến bộ KHKT do Hội Nông dân tổ chức, anh quyết định chuyển toàn bộ diện tích trồng sắn sang trồng bốn ha cà-phê và hai ha tiêu. Ðể có vốn đầu tư, anh mạnh dạn vay vốn Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện. Chính từ thay đổi cách làm kinh tế này, anh trở thành triệu phú.

Kết quả từ chuyển giao KHKT là mở ra nhiều mô hình kinh tế mới, mang lại hiệu quả cao, giúp nhiều hộ nông dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số thoát nghèo. Ðiển hình là mô hình trồng cây khoai lang Ben-ni A-zu-ma (Nhật Bản) ở xã Ðác Búc So (huyện Tuy Ðức) đã tạo ra một hướng đột phá trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng của tỉnh. Kỹ sư Nguyễn Ngọc Quyền, Trưởng phòng Nông nghiệp huyện Tuy Ðức, người trực tiếp đưa giống khoai lang về trồng và chuyển giao kỹ thuật thâm canh cho nông dân, khẳng định: Chỉ cần tham gia một lớp tập huấn ngắn ngày, mọi nông dân có thể nắm được kỹ thuật thâm canh cây khoai lang Ben-ni A-zu-ma với ba vụ/năm. Vì vậy, chỉ với hai ha trồng thử nghiệm ban đầu vào năm 2003, đến năm 2008 diện tích khoai lang Ben-ni A-zu-ma toàn tỉnh tăng lên 4.492 ha và đã có mặt khắp các huyện như Tuy Ðức, Ðác Song, Ðác R'lấp, Ðác Glong, Krông Nô... với sản lượng lên đến hàng chục nghìn tấn/năm. Chất lượng khoai lang trồng ở Ðác Nông vượt trội, củ khoai có mầu vàng hồng, ít xơ, độ đường và tinh bột cao cho nên xuất khẩu sang nhiều nước như Trung Quốc, Ma-lai-xi-a, Xin-ga-po... Ðến nay,  nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ từ bao đời nay chỉ biết làm lúa rẫy, sản xuất theo phương thức tự cung tự cấp, nay cũng biết trồng khoai lang xuất khẩu. Nhờ trồng khoai lang đã giúp cho hàng nghìn hộ nông dân ở Ðác Nông xóa được đói nghèo. Ngoài ra, một số mô hình mới được triển khai trên địa bàn cũng mang lại hiệu quả kinh tế cao như mô hình trồng tre lấy măng, cây ca-cao, cây mắc ca, nhất là  mô hình trồng chanh dây... cho thu nhập từ 300 đến 400 triệu đồng/ha/năm và hiện nay đang được nhân rộng tại các huyện trong tỉnh.

Không chỉ đối với các loại cây công nghiệp dài ngày, việc ứng dụng KHKT vào thâm canh các loại cây lương thực và chăn nuôi cũng mang lại hiệu quả thiết thực. Cụ thể, năng suất cây lúa nước đã tăng từ 38,8 tạ/ha năm 2004 lên 47 tạ/ha năm 2008; năng suất ngô tăng từ 40,6 tạ/ha lên 58,28 tạ/ha... dẫn đến diện tích và tổng sản lượng lương thực của tỉnh tăng, góp phần bảo đảm an ninh lương thực tại địa phương.

Tháo gỡ vướng mắc

Tuy nhiên, với một tỉnh miền núi, hơn 80% số dân sinh sống ở khu vực nông thôn và làm nông nghiệp là chính, nên nhu cầu được chuyển giao tiến bộ KHKT của nông dân ở Ðác Nông rất lớn. Nhưng theo Hội Nông dân tỉnh, trên thực tế việc chuyển giao KHKT  còn gặp nhiều hạn chế. Nguyên nhân do địa bàn tỉnh rộng, địa hình phức tạp, giao thông đi lại ở khu vực nông thôn gặp nhiều khó khăn, hạ tầng kỹ thuật thấp kém, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ làm công tác KHKT, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư còn mỏng, điều kiện làm việc gặp nhiều khó khăn... cho nên chưa đáp ứng được hết nhu cầu của nông dân, mà chỉ mới dừng lại ở những mô hình điểm, và một bộ phận nông dân ở những nơi có điều kiện thuận lợi hoặc nằm trong vùng triển khai chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình trọng điểm của tỉnh mới được hưởng lợi.

Ðể giúp nông dân trụ vững và vươn lên trong điều kiện đất nước ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, đòi hỏi Ðác Nông cần tập trung tuyên truyền, vận động để nâng cao nhận thức cho cán bộ, nông dân về vị trí, vai trò của KHKT và công nghệ đối với nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Qua đó, giúp cho mỗi cán bộ, hội viên, nông dân thấy rõ tác dụng to lớn của KHKT và công nghệ, từ đó tích cực ứng dụng vào sản xuất, nâng cao đời sống. Việc chuyển giao tiến bộ KHKT cần được lồng ghép vào các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, ưu tiên vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, tỉnh cần quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác khuyến nông, lâm, ngư, công... có trình độ, năng lực công tác và có lòng nhiệt huyết với nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Ðồng thời, đẩy mạnh các hoạt động tín dụng hỗ trợ vốn cho nông dân thông qua các gói kích cầu của Chính phủ và các nguồn vốn khác để nông dân có nguồn lực đầu tư ứng dụng tiến bộ KHKT vào sản xuất, chăn nuôi. Với một tỉnh  đông đồng bào dân tộc thiểu số như Ðác Nông thì việc chuyển giao KHKT cho nông dân phải theo phương châm "cầm tay chỉ việc", phải có mô hình cụ thể, làm đến nơi, đến chốn; trong quá trình triển khai thực hiện phải kiểm tra, giám sát và kịp thời hỗ trợ khi cần thiết... Có vậy, việc chuyển giao KHKT cho nông dân mới thật sự phát huy hiệu quả, đóng góp tích cực trong việc thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển, nâng cao đời sống nông dân.

Bài và ảnh: NGUYỄN CÔNG LÝ



logo