Bảo tồn voi nhà Tây Nguyên: Nhân giống hay thuần dưỡng?

Thứ Tư, 23/11/2011, 15:16:00
NDĐT – Số phận mỏi mòn của 52 con voi nhà già nua vẫn đang phải lao lực phục vụ con người ở Tây Nguyên khiến nhiều người lo lắng một ngày không xa chúng sẽ vắng bóng. Những phác thảo đầu tiên để bảo tồn voi nhà đã được đưa ra trong cuộc tọa đàm, nhưng dường nó mới chỉ là những nét vẽ đầy hứng khởi của những nghệ sĩ đá chân trái sang lĩnh vực bảo tồn mà chưa có sự cam kết thực hiện nào từ phía Nhà nước.
Bảo tồn voi nhà Tây Nguyên: Nhân giống hay thuần dưỡng?

Voi Pắc Cú chết thảm sau khi bị chém 217 nhát.

Khôi phục được không - nghề thuần dưỡng voi?

Anh Đàng Năng Long là đời thứ tư trong một gia đình vốn từng là Gru (thợ chính săn bắt voi về thuần dưỡng) ở Tây Nguyên. Anh cũng từng là một Gru dũng mãnh đã buộc phải giải nghệ khi Nhà nước cấm săn bắt voi rừng. Bố anh đã từng săn được 47 chú voi rừng về thuần phục. Còn kể cả bốn đời làm Gru của dòng họ anh thì có thảy hơn 500 con voi đã được thuần dưỡng và bán cho các chủ voi ở khắp Tây Nguyên. Đến bây giờ, anh vẫn đang là ông chủ sở hữu nhiều voi nhất Tây Nguyên với chín con voi nhà.

Gru Long vẫn rất nhớ ngón nghề ngang dọc một thời ấy. Những dụng cụ săn voi như dây da trâu, sào, tù và... vẫn được anh bày biện khắp ngôi nhà mình. Và nếu có nếu có ai hỏi đến nghề cũ, anh lại say sưa kể không hết chuyện về những chuyến săn voi vốn chỉ còn lại trong quá khứ. Anh mơ sẽ có ngày nghề thuần dưỡng voi được khôi phục. “Khi việc sinh sản của voi nhà là không thể thì chỉ còn cách thuần dưỡng voi rừng để cứu đàn voi nhà mà thôi”, anh nói.

Thuần dưỡng voi cũng được nhà sử học Dương Trung Quốc gợi ra như là một giải pháp để cứu voi nhà. “Cùng với việc bảo tồn voi rừng, chúng ta cũng nên cho phép săn voi rừng về thuần dưỡng. Trong khi rừng đang cạn kiệt, voi nếu ở trong rừng cũng không sống được”. Ông đưa ra dẫn chứng ở Thái Lan, sau khi rừng bị thu hẹp, nước này đã thống kê và thấy 90% số voi rừng bị chết là do bị tai nạn giao thông. Vì thế, Thái Lan đã thành lập những trung tâm huấn luyện, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo tồn voi và thay đổi công năng cho những chú voi rừng thành những con voi giúp ích cho con người trong đời sống xã hội.

Hơn nữa, theo nhà sử học, ở Việt Nam ta, nghề săn bắt và thuần dưỡng voi đã là một di sản phi vật thể cần được gìn giữ. “Tôi thấy việc cấm săn bắt voi là đúng, nhưng bên cạnh đó cũng cần bổ sung cho đàn voi nhà để có một cơ cấu cân đối thích hợp giữa voi rừng và voi nhà, vừa bảo vệ được thiên nhiên, vừa duy trì được một di sản phi vật thể của đất nước”. Chúng ta đã từng có những nghệ nhân săn voi nổi tiếng như Ama Kông, và ngày nay, những gru trẻ vẫn có thể làm được điều đó. Và vài năm một lần, nên thắp lửa cho cái nghề hào sảng một thời này bằng những chuyến săn voi.

Đại diện duy nhất của chính quyền Đác Lắc, nơi có đàn voi nhà đông nhất Tây Nguyên trong cuộc tọa đàm là ông Nguyễn Văn Xuân, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Đác Lắc. Ông Xuân cho rằng Việt Nam đã tham gia Công ước CITES về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp. Trong đó, có quy định về việc cấm săn bắt động vật hoang dã. Vì thế, xét về lý, việc săn bắt voi rừng sẽ trái với công ước quốc tế. Tuy nhiên, cũng theo ông Xuân, việc săn bắt voi không phải là để bắn chết hay làm bị thương con voi rồi mang đi tiêu thụ mà là để thuần dưỡng nó trở thành voi nhà nên cũng có thể đề xuất xem xét phương án bảo tồn này.

Thụ tinh nhân tạo cho ... voi!

Bếu nhìn vào cơ cấu của đàn voi Tây Nguyên hiện tại thì vẫn còn cơ hội nhân giống để bảo tồn, nếu muộn hơn thì không thể.

Nhưng 52 con voi nhà sống rải rác trong rất nhiều hộ dân ở Đác Lắc ấy đang mang lại nguồn kinh tế lớn cho những chủ voi. Chúng đang bị bóc lột sức lao động hàng ngày nên gần như không có cơ hội gần gũi để “yêu” nhau rồi sinh đẻ để bảo toàn nòi giống.

Mỗi lần voi đực động dục, chủ voi thường phải làm lễ khá tốn kém để xin con voi cái của chủ voi khác cho chú voi của mình, và nếu voi đực không thỏa mãn nên đánh voi cái bị thương thì lại phải bỏ tiền ra đền. Mà nếu voi cái có sinh được con thì chủ voi đực cũng không được gì. Vì tính toán giá trị kinh tế, nên mỗi lần như thế, thay vì cho chúng thực hiện “thiên năng” của mình, các chủ voi thường đưa chúng lên rừng để chúng tự khuây khỏa, lúc hết cơn lại đưa chúng trở về. Và cũng vì tính đến giá trị kinh tế, chủ voi cái không muốn cho voi của mình sinh đẻ rồi mất đến 5 năm chăm sóc voi con trong khi giá trị của voi con rất rẻ. Mặc dù đã có những chú voi do voi nhà sinh ra, nhưng các chủ voi vẫn không mặn mà với việc nhân giống voi để bảo tồn. Nên cứ thế, đàn voi nhà đang thu hẹp dần từng năm qua.

Một tín hiệu mừng là năm 2009, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn Đác Lắc đã xây dựng một dự án bảo tồn voi với kinh phí 60 tỷ đồng trong 5 năm. Giữa năm nay, Trung tâm bảo tồn voi với sáu nhân sự đã được thành lập tại Vườn quốc gia Yorkdon. Ông Xuân cho biết, sẽ trích từ kinh phí 60 tỷ đồng để hỗ trợ cho các chủ voi. Chẳng hạn yêu cầu chủ voi phải cho voi nghỉ làm việc trong ba tháng, thời gian đó vẫn được nhận tiền đền bù từ phía Trung tâm bảo tồn. Việc tạo điều kiện cho voi có thời gian nghỉ ngơi, tìm bạn tình và tạo cơ hội sinh sản cho voi là hết sức cần thiết. Bên cạnh đó, Trung tâm cũng đã cử nhân lực sang Thái Lan học cách nhân giống voi bằng thụ tinh nhân tạo, thậm chí đã mua các dụng cụ cần thiết cho công việc này.

“Sẽ đưa vấn đề bảo tồn voi ra chất vấn tại Quốc hội”

Một đề xuất nữa của các diễn giả tại buổi tọa đàm là đừng để cho các chủ voi đơn độc trong việc bảo vệ tính mạng cho những chú voi nhà trước những kẻ săn trộm. Câu chuyện của anh Đàng Năng Long về việc anh đã từng phải đóng vai Việt kiều và xin phép vợ thuê một cô gái đẹp giả làm bồ của mình rồi tự đi khắp Tây Nguyên tìm kẻ chặt đuôi voi của mình khiến nhiều người cười trong nước mắt. Đã đến lúc Nhà nước cần mạnh tay hơn trong xử lý những án trộm đuôi, giết voi lấy ngà... để số phận của những đại diện voi nhà ít ỏi của Tây Nguyên không mong manh thế nữa.

Voi là một trường hợp đặc biệt khi nó vừa gắn với lịch sử, văn hóa, và cả bảo tồn. Trong những loài động vật quý hiếm, chúng ta không thể có gấu nhà, hổ nhà..., nhưng lại có voi nhà. Nhưng có phải vì chúng đặc biệt quá chăng mà khi những con vật nuôi quen thuộc như chó, mèo... đều có bác sĩ thú y chăm sóc, thì chưa hề có một bác sĩ chăm sóc voi nào. Các chủ voi vẫn chỉ biết chữa bệnh cho voi của mình bằng những bài thuốc dân gian truyền lại.

Cũng có phải vì đặc biệt nên voi nhà không thuộc một cơ quan Nhà nước nào quản lý, như những con trâu, bò, lợn, gia cầm... vẫn có? Và khi Nhà nước không đoái hoài đến chúng, thì những nhà sử học, nghệ sĩ nhiếp ảnh, nhà báo... lại phải sốt sắng làm công việc của nhà bảo tồn. Nên những giải pháp mà họ đưa ra đề xuất cứu voi nhà cũng trực cảm như nỗi lo lắng của họ. Các cơ quan quản lý sẽ còn phải suy nghĩ nhiều về những giải pháp của những người làm bảo tồn “tay trái” đưa ra, nhưng hãy vì sự đặc biệt của con voi mà hành động trước khi quá muộn.

Trước khi kết thúc buổi tọa đàm về bảo tồn voi, nhà sử học Dương Trung Quốc nói ông sẽ chất vấn Bộ trưởng Nông nghiệp và phát triển nông thôn trong kỳ họp Quốc hội tới về vấn đề này. “Tôi sẽ đặt câu hỏi đơn giản: “Trách nhiệm của Bộ nói riêng và Chính phủ nói chung trong việc bảo tồn voi? Đừng để cho những người chép sử chúng tôi viết rằng: Ngày ấy, giờ ấy, trong nhiệm kỳ của ông (bà) ấy, con voi cuối cùng ở Việt Nam đã chết”.

Ông cũng đặt ra trách nhiệm đối với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, cho rằng cơ quan này cần phải quản lý đàn voi như một thực thể văn hóa, bởi hiện tại voi nhà vẫn bị khai thác cho mục đích du lịch-văn hóa là chủ yếu.

LÂM-NHẬT

Theo