ND - Tháng 5 năm 1954, Ðiện Biên Phủ vốn là một bản quê hẻo lánh ở vùng núi rừng Tây Bắc Việt Nam bỗng trở thành một địa danh "lừng lẫy năm châu". Với nhân dân ta, chiến thắng Ðiện Biên Phủ là một trong những trang chói lọi
nhất trong lịch sử chống ngoại xâm. Với thế giới, Ðiện Biên Phủ được biết đến
như một đòn trí mạng giáng vào chủ nghĩa thực dân cũ và dẫn đến sự sụp đổ của nó
trên phạm vi nhiều châu lục. Với đối phương, đây là một thảm bại mà họ buộc phải
chấp nhận trong nỗi uất hận và đau buồn nhớ lại một Oa-téc-lô thuở xưa, xen lẫn
cả sự tâm phục khẩu phục một đối thủ mà chỉ trước đó ít lâu, họ tưởng có thể bóp
chết được bằng "cái bẫy Ðiện Biên Phủ". Qua hàng vạn trang viết sau này của các quân nhân, chính khách, sử gia, nhà
văn và nhà báo Pháp, ta có thể thấy được Ðiện Biên Phủ từ góc nhìn của kẻ bại
trận. Sau đây là một vài mẩu chuyện cụ thể.(*) Sao hôm đó lại không mưa nhỉ? Ngày 20-11-1953, dưới sự chỉ huy của thiếu tướng Gin (Gilles), Pháp mở cuộc
hành quân Castor (Hải Ly) nhảy dù chiếm Ðiện Biên Phủ. Lực lượng huy động gồm
hơn 60 máy bay Ðakôta chở sáu tiểu đoàn dù với quân số 4.545 tên cùng với 190
tấn vũ khí đạn dược và cả thiết bị chiến tranh. Tướng Cô-nhi, chỉ huy quân đội
Pháp ở Bắc Bộ coi đây là "khởi đầu của một cuộc chiến tranh đại quy mô...". Hôm đó, thiếu tá M.Bi-gia (sau này là đại tướng, Bộ trưởng Quốc phòng Pháp)
cùng 800 quân đơn vị Tiểu đoàn dù thuộc địa số 1 của ông, đã sẵn sàng lên 64
chiếc C47 có những cánh bạc mới nhận của Mỹ. Số quân này lẽ ra đang chuẩn bị trở
về Pháp thì đêm trước, đột nhiên nhận được lệnh tham gia cuộc hành quân mới.
Thiếu tá Bi-gia được thông báo nếu thời tiết không thuận lợi, nếu trời mây mù
hay giông thì cuộc hành trình sẽ tạm hoãn. Thế nhưng Ðiện Biên Phủ cứ như một
định mệnh. Sau này, có dịp nhớ lại, tướng Bi-gia nói: "Tôi thường tự hỏi, sao
hôm đó lại không mưa nhỉ? Và như vậy có phải thoát được Ðiện Biên Phủ
không?". Người giăng bẫy bị mắc bẫy Trong kế hoạch Na-va đông xuân 1953-1954, Bộ Tổng tham mưu Pháp muốn giăng
một cái bẫy nhử địch vào tròng. Cái bẫy đó, theo họ, phải được chuẩn bị chu đáo
tới mức quân Việt Minh nhảy vào là sẽ bị đánh gãy răng, sẽ gặp một sự kháng cự,
một hỏa lực mạnh và một nghị lực chiến đấu không lường trước được. Cái bẫy đó là
Ðiện Biên Phủ. Thế nhưng, người giăng bẫy lại chính là người bị mắc bẫy. Theo báo chí nước
ngoài thời bấy giờ, Tướng Giáp đã chấp nhận sự thách thức của Pháp. Từ Ðiện Biên
Phủ, ông chỉ thị cho Bộ Tham mưu mặt trận của mình: "Thắt cổ họng người Pháp
lại". Nhà báo Ô-xtrây-li-a Bớc-sét có dịp gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và hỏi: "Mỗi
ngày tôi nghe đài Hà Nội đến ba, bốn lần. Họ đang nói đến cái địa điểm nào đó
gọi là Ðiện Biên Phủ. Xin Cụ cho hay điều gì đang xảy ra ở đó vậy?". Chủ tịch Hồ
Chí Minh lật chiếc mũ cát vừa đặt ra bàn, rồi Người phác một vòng quanh vành mũ,
chỉ xuống đáy chiếc mũ: "Ðiện Biên Phủ là một thung lũng, bị đồi núi vây quanh.
Ðội hình của quân đội Pháp đang ở đáy mũ rồi, còn chúng tôi đang ở quanh vành mũ
này. Họ đang vây hãm các đồi xung quanh. Ðấy! Chẳng rút ra nổi nữa rồi !". Ngày 13-3-1954, quân đội Việt Nam mở cuộc tiến công lớn đầu tiên vào tập đoàn
cứ điểm Ðiện Biên Phủ. Ðại tá Lănggle, Tư lệnh Lục quân, cho hay: "Thời điểm
chúng tôi dự kiến cuộc tiến công của Tướng Giáp là 5 giờ chiều ngày 13-3. Nhưng
đúng 5 giờ chiều chẳng có gì xảy ra như dự kiến. Vậy cho nên tôi cho tiến hành
một trận pháo kích... Ðúng lúc đó, 200 trái đạn của Tướng Giáp giội vào sân bay
và khu trung tâm trên một mặt phẳng theo hình tam giác. Hàng rào đạn kéo dài một
giờ đồng hồ. Nó kéo dài như vô tận". Vẫn theo đại tá Lăng-gle, cho đến lúc đó, pháo binh Pháp vẫn chưa định hướng
nổi các cỗ pháo của Tướng Giáp, ngay cả lúc nòng pháo họ phát hỏa. Tướng Na-va
tại Hà Nội theo dõi chặt chẽ đã tỏ ra kinh ngạc. Mọi pháo thủ Pháp hay Mỹ đã
từng quan sát Ðiện Biên Phủ, ngay cả người Mỹ đang ở đây đều nghĩ Việt Minh đang
ở đằng sau các mỏm đồi nã pháo vào quân ta. Ðiều kinh ngạc nữa là làm sao họ có
thể mang nổi pháo lại gần hơn điều mà ta có thể nghĩ ra. Cách giải thích đó nói
lên sai lầm của pháo binh Pháp khi đánh giá tình hình và tôi cũng phải chịu
trách nhiệm vì tôi là người chỉ huy cao nhất. Ngay giờ đầu tiên, 500 lính Pháp đã tử trận trên quả đồi. Vào xế chiều, Việt
Minh tung cả Sư đoàn bộ binh đánh chiếm Bêatrixơ (Him Lam), điểm chốt của trung
tâm, đến nửa đêm thì Bêatrixơ chỉ còn là một nấm mồ. Chỉ có 200 binh sĩ trong số
700 quân đồn trú thoát chạy. Sau thảm họa đầu tiên này, Tư lệnh pháo binh, đại
tá Sác-lơ Pi-rốt đã tự sát. Hai nỗi sợ hãi tràn ngập Ngày 30-3, đợt tiến công thứ hai của quân ta vào cứ điểm Ðiện Biên Phủ bắt
đầu. Ngày 1-4, tướng Na-va quyết định đưa thêm ba tiểu đoàn dù tăng viện cho
Ðiện Biên Phủ với mong muốn "Nếu Ðiện Biên Phủ giữ được ba ngày nữa, Việt Minh
sẽ phải bỏ cuộc". Lúc này, hai nỗi sợ hãi tràn ngập trong hàng ngũ quân đội Pháp. Ðó là số
thương binh tăng lên quá nhanh, không thể nào cứu chữa nổi. Và các hầm hào của
đối phương thì cứ nhằm vào trung tâm Ðiện Biên Phủ mà doãi tới. Các bác sĩ quân y nói: "Cái địa ngục khủng khiếp này đã bắt đầu rồi. Hầm cứu
thương dã chiến có 40 chục giường, chỉ có bốn thầy thuốc phục vụ 12.000 người
không còn hy vọng gì sống sót, chứ chưa nói là cứu chữa nổi thương binh. Bắt đầu
phải đào thêm hầm cứu thương, đặt thương binh sát vào vách hào". Và: "Trong cái
nhà mồ y tế Pháp, cảnh tượng thật tối tăm nhầy nhụa. Y viện ngầm đã nhích đến
tận cùng chỗ dùng làm nhà xác. Ở đấy, có khi thương binh nhìn thấy bọ trắng to
lù bò ra giữa những đống bông băng. Chân họ đầy dòi. Thật khủng khiếp!". Trong khi đó, trên không, những tấm ảnh chụp được phát hiện những đường hầm
của Tướng Giáp đã bò lan nhanh chóng. Hà Nội thông báo qua đài vô tuyến điện, đề
nghị sẽ thả các phương tiện đo tiếng động. Bộ Chỉ huy Ðiện Biên Phủ trả lời:
Khỏi cần, chúng tôi đang nghe thấy cả tiếng họ đào rồi. Từ đỉnh núi Tướng Giáp
được báo cáo "đã xong hàng trăm ki-lô-mét đường hào. Yêu cầu cơ động quân đội
bất kể có bom na-pan và pháo định". Quân Pháp thì ngày càng bối rối thảm hại.
Bi-gia nói: Quân số chúng tôi hao hụt dần. Tiểu đoàn 800 người khi nhảy xuống,
rút xuống 700 người, rồi 600, 400 người. Rồi chỉ còn lại 300, rồi lại 180 người.
Cuối cùng chỉ còn lại 80 người khỏe hơn, nhưng thừa chết thiếu sống". "Chỉ đầu hàng, không phất cờ trắng" Ngày 1-5, đợt tiến công thứ ba, cũng là đợt tiến công cuối cùng của quân ta
vào Ðiện Biên Phủ bắt đầu. Ðại tá Lăng-gle kể lại: Ngày 6-5, tất cả đều đã kiệt sức, hoàn toàn rã rời.
Chúng tôi hiểu không còn cách gì làm tiếp được nữa. Hết cả đạn dược. Quân số
cũng cạn. Do vậy mà kể từ ngày 7-5, khi quân Việt Minh tới, thật sự là cuộc
chiến đấu của chúng tôi đã chấm dứt. Quân Pháp cũng đã tính đến một cuộc tháo
chạy tự sát. Hai đội quân sẽ chạy sang Lào và mỗi binh đoàn sẽ tìm thấy vận may
cho mình. Sớm ngày 7-5, tôi kêu gọi sĩ quan nào còn sống sót tới chung quanh để
bắt đầu một cuộc thử sức cuối cùng. Nhưng các sĩ quan thông báo cho tôi binh sĩ
không còn khả năng chống cự lâu được nữa. Tôi báo cáo lên tướng Ðờ Cát-tơ-ri
tình hình này. Ông ta gọi cho Hà Nội và thông báo cuộc chiến đấu đã chấm dứt
rồi. "Thế là hết"! Na-va trả lời qua máy vô tuyến điện thanh: "Ðừng giơ cờ
trắng, chỉ ngừng chiến đấu thôi" (Có nghĩa là thỏa thuận cho đầu hàng nhưng
không phất cờ trắng). Lúc đó là 1 giờ chiều ngày mồng 7. Các sĩ quan đứng vây quanh Sở chỉ huy chờ
đợi. Ðúng 5 giờ chiều, kể từ giờ phút mở màn đã là 55 ngày. Mọi người nghe thấy
tiếng nói của Việt Minh gọi nhau xung quanh. Có cái gì rộp rộp trên nóc hầm. Tôi
ngồi xuống ghế, không biết mình nghĩ đến điều gì cả. Những bậc hầm dẫn ra ngoài
đã ở ngay trước mắt. Lúc đó chúng tôi đều nghĩ đến trái lựu đạn. Lạy chúa! Rất
có thể một trái lựu đạn liệng xuống chỗ bậc hầm và sẽ nổ tung hết. Nhưng trường
hợp này đã không xảy ra. Các binh sĩ chiến thắng Việt Nam đội mũ nan, lưỡi lê
đầu súng bước vào chỉ nói: "Ðứng dậy!". Pa-ri, ngày ảm đạm Báo Rạng Ðông (L'Aurore), ngày 8-5-1954, đưa tin. "... Ngày 7-5-1954, 16 giờ 45 phút (theo giờ Pháp, chậm hơn Việt Nam 7
tiếng), khi ông La-ni-en (Thủ tướng Pháp) lên diễn đàn ở điện Buốc-bông
(Bourbon), người ta đã biết ông ta sẽ nói gì. Cái tin buồn đến Pari hồi 13 giờ
12 phút bằng một bức điện ngắn ngủi ba dòng đã lan nhanh như một vệt thuốc
súng... Mặc quần áo đen, nét mặt co rúm vì xúc động, ông La-ni-en nặng nề bước lên
các bậc diễn đàn. Tất cả các nghị sĩ đều đứng dậy trong sự im lặng nặng nề. Chỉ
riêng 15 nghị sĩ cộng sản và ông Ðờ Chăm-pơ-roong vẫn ngồi yên. La-ni-en bắt đầu
bằng một giọng đứt quãng: "Chính phủ vừa được tin tập đoàn cứ điểm Ðiện Biên Phủ
đã thất thủ sau 20 giờ chiến đấu gay go liên tục". La-ni-en nói chậm rãi trong
không khí của hội trường rộng rãi âm vang, người ta nghe tiếng nói của La-ni-en
như tiếng khóc nức nở của một thiếu phụ ở chốn xa xăm nào đó". Báo Nước Pháp người quan sát (France Observateur) ngày 13-5-1954 đã gay gắt
phản bác các bản thông cáo của chính quyền trong đó coi sự thất thủ Ðiện Biên
Phủ vừa là thất bại vừa là thắng lợi, vừa là quốc tang lại vừa là thành công có
ý nghĩa toàn thế giới. Báo viết: "Tuy nhiên cái sự kiện sờ sờ ra đó và nếu người
ta không tự dối mình và dối người khác thì những sự kiện đó đã nói lên một cách
rõ ràng. Trước hết bản kết toán về cuộc chiến đấu ở Ðiện Biên Phủ đã rõ ràng. Ðó
là chiến thắng quyết định và hoàn toàn đối với Tướng Võ Nguyên Giáp, một sự thất
bại hoàn toàn đối với tướng Na-va, Bi-đô, Plê-ven, La-ni-en,... Nếu người ta nói
đến sự "thất bại" của Ðiện Biên Phủ thì phải gọi đúng tên của nó. Ðó là một sự
đầu hàng". Thất trận Ðiện Biên Phủ, tại sao? Ðể trả lời câu hỏi đó, giới chính trị Pháp thời bấy giờ đổ lỗi cho giới quân
sự sai lầm về chiến lược, kém cỏi tệ về chiến thuật. Giới quân sự, ngược lại,
rằng đó trước hết là thất bại về chính trị. Trong cuốn sách Thời điểm của những sự thật xuất bản sau này, tướng Na-va,
Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp ở Ðông Dương, đã viết: "Cuộc chiến tranh Ðông Dương không phải là một cuộc chiến tranh dân tộc. Ðó
là cuộc viễn chinh thôn tính ở nơi xa xôi, tiến hành với một quân đội chuyên
nghiệp đơn độc, trong đó dân tộc ta không hiểu được ý nghĩa của nó". Ông còn viết: "... Về phương diện chính trị, Việt Minh là một quốc gia thật sự. Thật vậy uy
quyền trực tiếp của họ lan rộng quá nửa nước Việt Nam... Nhưng than ôi, tình
hình bên ta thì hoàn toàn trái ngược lại. Chưa bao giờ chúng ta có được một
người cầm quyền từ đầu đến cuối. Trong khi đối phương chỉ có một lãnh tụ chính
trị duy nhất - Hồ Chí Minh - và một lãnh tụ quân sự duy nhất - Võ Nguyên Giáp.
Lãnh đạo chiến đấu từ bảy năm nay thì 19 Chính phủ liên tiếp của ta đã đưa ra
năm thủ lĩnh chính trị ở Ðông Dương, Ðờ Giăng (De Jean) là người thứ sáu và sáu
tổng chỉ huy (tôi là người thứ bảy). Hơn nữa, chúng ta cũng chẳng bao giờ có một
chính sách nhất quán từ đầu đến cuối. Hay nói đúng hơn, chúng ta chẳng có chính
sách nào cả...". Ðại tướng Bi-gia, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Pháp (trước là thiếu tá ở Ðiện
Biên Phủ), trong hồi ký của mình, cũng viết: "Theo quan niệm của tôi, họ (Việt
Minh) trở nên một đơn vị bộ binh kiệt xuất và được huấn luyện để đánh bại chúng
ta. Bây giờ chúng ta không còn gì cả, chúng ta đã ở xa nước Pháp, nhưng phải
nhận rằng họ đang đánh bại cả người Mỹ. Bởi vậy họ thật là kiệt xuất!". HÀ ÐĂNG Tháng 5-2009 --------------------- (*) Tư liệu trích dẫn từ quyển sách Ðiện Biên Phủ, hợp tuyển công trình khoa
học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005. |
| Trang chính
|
Chính trị
|
Kinh tế
|
Đời sống - Sức khỏe
|
Pháp luật
|
Khoa học - Giáo dục - Tin học
|
Văn hoá
|
Thế giới
|
Thể thao
|
Tết 2009
|
Trang Hà Nội
|
Tết 2010
|
World Cup 2010
|
© Báo Nhân Dân thiết kế và giữ bản quyền. Mong bạn đọc góp ý kiến, phê bình. Địa chỉ liên hệ: toasoan@nhandan.org.vn |