|
ND - Các nhà khoa học đã phát hiện, nước ta có hàng nghìn điểm mỏ và tụ khoáng của hơn 60 loại khoáng sản khác nhau, từ các khoáng sản năng lượng, kim loại đến khoáng chất công nghiệp và vật liệu xây dựng. Nước ta có nhiều loại khoáng sản, tuy vậy trữ lượng không nhiều. Khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên khoáng sản là việc làm cần thiết của các ngành trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HÐH đất nước. Nhóm khoáng sản năng lượng nước ta có tiềm năng
dầu khí đáng kể. Ðến ngày 2-9-2009, Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam đã
đạt mốc khai thác 300 triệu tấn dầu quy đổi. Với sản lượng khai thác dầu khí
hằng năm, hiện nay Việt Nam đứng hàng thứ ba ở Ðông - Nam Á, sau In-đô-nê-xi-a
và Ma-lai-xi-a. Than biến chất cao (anthracit) ở nước ta phân bố chủ yếu ở các
bể than Quảng Ninh, Thái Nguyên, sông Ðà, Nông Sơn, với tổng tài nguyên đạt hơn
18 tỷ tấn. Bể than Quảng Ninh là lớn nhất, với trữ lượng đạt hơn ba tỷ tấn. Bể
than Quảng Ninh đã được khai thác từ hơn 100 năm nay, phục vụ tốt cho các nhu
cầu trong nước và xuất khẩu. Các nhà khoa học địa chất đã phát hiện nhiều tụ khoáng u-ra-ni ở Ðông Bắc Bộ,
Trung Trung Bộ và Tây Nguyên. Tổng tài nguyên u-ra-ni ở Việt Nam được dự báo
hơn 218 nghìn tấn U308, có thể là nguồn nguyên liệu khoáng cho các nhà máy
điện hạt nhân trong tương lai. Việt Nam có nhiều nguồn nước nóng, ở phần đất
liền có 264 nguồn có nhiệt độ 300C trở lên. Các nguồn nước nóng chủ yếu được
phân bố ở Tây Bắc, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Ngoài ra nhờ khoan thăm dò, khai
thác dầu khí chúng ta cũng phát hiện được nhiều nguồn nước nóng ở dưới sâu thuộc
Bể Sông Hồng và Bể Cửu Long. Tiềm năng địa nhiệt của Việt Nam không lớn nhưng có
thể coi là nguồn năng lượng bổ sung cho các nguồn năng lượng truyền thống, phục
vụ nhu cầu CNH, HÐH đất nước. Nhóm khoáng sản kim loại nước ta có nhiều loại như sắt, man-gan, crôm,
ti-tan, đồng, chì, kẽm, cô-ban, ni-ken, nhôm, thiếc, vàng, bạc, v.v. Trong số
khoáng sản kim loại kể trên có các loại tài nguyên trữ lượng lớn tầm cỡ thế giới
như bô-xít (quặng nhôm), đất hiếm, ti-tan, vôn-phram, crôm, v.v. Nhóm khoáng chất công nghiệp nước ta có nhiều loại như a-pa-tit,
phốt-pho-rít, than bùn, sét gốm sứ,... thạch anh tinh thể. Các khoáng chất
công nghiệp ở Việt Nam đã được đánh giá và nhiều mỏ đã được khai thác phục vụ
các ngành nông nghiệp, công nghiệp. Nhóm vật liệu xây dựng nước ta có
nhiều mỏ vật liệu xây dựng: sét gạch ngói, sét-xi măng, puzzolan, cát sỏi, đá
vôi, đá hoa trắng, đá ốp lát, đá ong. Các mỏ vật liệu xây dựng đã và đang được
khai thác phục vụ cho công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước.
Ngoài các loại khoáng sản kể trên, từ năm 1987 chúng ta đã phát hiện nhóm đá quý
ruby, saphia, peridot, ... nhưng trữ lượng không lớn. Riêng ruby ở Yên Bái và
Nghệ An có chất lượng cao, được thế giới đánh giá đạt chất lượng quốc tế, tương
đương với ruby nổi tiếng của Mi-an-ma. Nếu so sánh với các nước ở trong khu vực Ðông- Nam Á và thế giới, thì thấy
rằng: Nước ta tuy có diện tích đất liền không lớn, nhưng có vị trí địa chất, địa
lý thuận lợi cho sự sinh thành và phát triển khoáng sản. Với nguồn tài nguyên
khoáng sản đó, có thể xếp nước ta vào hàng các nước có tiềm năng khoáng sản đáng
kể. Tuy nhiên cần phải chú ý bốn đặc điểm sau: Thứ nhất, Việt Nam không có tiềm năng lớn về các khoáng sản năng lượng, với
sản lượng khai thác như hiện nay thì dầu khí chỉ bảo đảm khai thác được
khoảng 30 năm nữa, do vậy cần tăng cường tìm kiếm thăm dò để tăng trữ lượng phục
vụ lâu dài. Than biến chất cao (Anthracit) với trữ lượng đã được đánh giá đạt
nhiều tỷ tấn cần phải khai thác sâu hàng trăm mét mới bảo đảm cho nhu cầu
phát triển kinh tế của đất nước. Than biến chất thấp ở dưới sâu đồng bằng sông
Hồng tuy dự báo có tài nguyên lớn đến vài trăm tỷ tấn nhưng ở độ sâu hàng nghìn
mét dưới lòng đất, điều kiện khai thác cực kỳ khó khăn. Tiềm năng u-ra-ni và địa
nhiệt không đáng kể và chưa được thăm dò đánh giá trữ lượng. Thứ hai, Việt Nam có nhiều khoáng sản kim loại nhưng trữ lượng không nhiều.
Rất nhiều khoáng sản kim loại (vàng, bạc, đồng, chì, kẽm, thiếc, v.v.) thế giới
rất cần trong khi trữ lượng không có nhiều, chỉ khai thác mấy chục năm nữa sẽ
cạn kiệt. Thứ ba, Việt Nam có nhiều loại khoáng chất công nghiệp và vật liệu xây dựng
phục vụ tốt cho phát triển kinh tế của đất nước và có thể xuất khẩu. Tuy nhiên
chúng không phải là khoáng sản có giá trị kinh tế cao và trên thế giới cũng có
nhiều, đủ dùng trong nhiều năm nữa. Thứ tư, Việt Nam chưa phát hiện được kim cương - loại khoáng sản quý có
giá trị kinh tế kỹ thuật cao. Các nhà địa chất đã phát hiện ở Việt Nam có ru-bi
chất lượng cao, nhưng trữ lượng chưa rõ, các loại đá quý khác cũng chưa được
phát hiện nhiều. Thực tế nhóm đá quý được phát hiện ở Việt Nam chưa đóng góp gì
đáng kể cho phát triển kinh tế đất nước. Phân tích sâu về đặc điểm tiềm năng tài nguyên khoáng sản của Việt Nam trong
bối cảnh chung về tài nguyên khoáng sản của khu vực và thế giới thấy rõ, tuy
Việt Nam là nước có nhiều loại khoáng sản nhưng trữ lượng hầu hết các loại không
nhiều. Một số loại khoáng sản như bô-xít, đất hiếm, ilmenit ta có tài nguyên trữ
lượng tầm cỡ thế giới thì thế giới cũng có nhiều và không có nhu cầu tiêu
thụ lớn. Ðây là điều cần phải được quan tâm nghiên cứu đánh giá khách quan giữa
cung và cầu để có chiến lược sử dụng tài nguyên khoáng sản đúng đắn, hợp lý,
phục vụ phát triển kinh tế của đất nước. Ðể thực hiện CNH, HÐH đất nước trong
những năm tới, các cấp có thẩm quyền cần đẩy mạnh điều tra, khảo sát, đánh giá
các loại khoáng sản mà thế giới và trong nước cần, trữ lượng, bởi khoáng sản là
loại tài nguyên không tái tạo được và có số lượng hạn chế trong lòng đất, do đó
chúng ta cần có chiến lược quản lý, bảo vệ, khai thác để sử dụng hợp lý, tiết
kiệm để phục vụ hiệu quả, sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, an
ninh quốc phòng của đất nước. PGS, TS NGUYỄN KHẮC VINH Chủ tịch Tổng hội Ðịa chất Việt Nam |
| Trang chính
Chính trị
|
Kinh tế
|
Đời sống - Sức khỏe
|
Pháp luật
|
|
Khoa học - Giáo dục - Tin học
|
Văn hoá
|
Thế giới
|
Thể thao
|
Tết 2009
|
Trang Hà Nội
|
Tết 2010
|
World Cup 2010
|
© Báo Nhân Dân thiết kế và giữ bản quyền. Mong bạn đọc góp ý kiến, phê bình. Địa chỉ liên hệ: toasoan@nhandan.org.vn |