Sau loạt bài trên báo Thanh niên về những phát hiện của Thiền sư Lê Mạnh
Thát (TSLMT) có tựa đề "Những phát hiện lịch sử chấn động", sau khi đăng ý
kiến của ông Trương Thái Du, trong số báo này, chúng tôi xin đăng bài trả lời
phỏng vấn của Giáo sư Sử học đầu ngành Phan Huy Lê. Khi gặp gỡ, thiền sư đã để lại
cho tôi ấn tượng rất tốt đẹp * Phóng
viên: Với tư cách là nhà nghiên cứu lịch sử, Giáo sư có nhận xét gì về
loạt bài "Những phát hiện lịch sử chấn động" đăng trên báo Thanh niên? * Giáo sư PHAN HUY LÊ: Tôi theo dõi rất kỹ cả chùm 7 bài báo này. Điều tôi băn khoăn đầu
tiên, là cách viết của nhà báo khi đưa ra câu "ông Lê Quý Đôn (LQĐ) cũng lôi
thôi quá". Dựa trên cơ sở trích lại bài thơ của Thiền sư Hương Hải, LQĐ có dẫn
lại trong Kiến văn Tiểu lục theo đúng cuốn sách mà học trò của Thiền sư Hương
Hải có sưu tập lại gọi là Hương Hải Thiền sư ngữ lục. Đúng là LQĐ chưa tra cứu
kỹ, cho nên cuốn sách học trò chép có lẫn rất nhiều các bài thơ của Trung Quốc.
Nhưng chỉ vì chi tiết này mà đi đến chỗ nhìn nhận LQĐ “ông này cũng lôi thôi
quá" thì tôi rất là băn khoăn. Có thể nói trong số các học giả lớn của Việt Nam
thời trước đây, LQĐ là hàng đầu, là nhà bác học lớn nhất Việt Nam mà cống hiến
của ông rất lớn lao, đây chỉ là một tình tiết rất nhỏ trong tổng số di sản đồ sộ
ông để lại. Trong cuộc đời của một nhà khoa học, nhất là Khoa học xã hội nhân
văn (KHXHNV), với khối công trình đồ sộ, thì đây đó không thể tránh khỏi những sơ suất thậm chí nhầm lẫn.
Nhưng căn cứ vào chi tiết nhỏ đấy mà kết luận như vậy, tôi thấy rất băn khoăn.
Đến lúc viết về Ngô Sĩ Liên (NSL), cũng là nhà sử học lớn TK 15, dựa vào
bình luận của NSL về Sĩ Nhiếp thì lại thấy đưa ra câu "nhắm mắt nói càn",
rồi lại viết là "khốn nạn hết chỗ nói". Ngay ở ngôn từ này
tôi đã bị một cái có thể gọi là “chấn
động”. Mà tôi lại có dịp trực tiếp gặp gỡ và trao đổi một cách hết sức chân thành
với thiền sư. Phải nói thiền sư để lại cho tôi một ấn tượng rất tốt đẹp, một nhà
học giả nghiên cứu về Phật giáo phải nói là uyên thâm, có nhiều cống hiến, tìm
tòi về văn học Phật giáo Việt Nam. Là một tri thức, trước hết là một nhà tu
hành, tôi tin rằng là thiền sư không thể có những thái độ như vậy đối với các
bậc tiền bối của mình. Nhưng điều tôi quan tâm không phải là một vài câu bình luận đó, mà vấn đề là
nội dung mà thiền sư đưa ra. Tôi đã phải đọc lại các tác phẩm của thiền sư,
trong 3 công trình liên quan đến vấn đề này thì có 2 công trình tôi đọc ngay từ
đầu, thứ nhất là quyển Lịch sử phật giáo Việt Nam tập 1 NXB Thuận Hóa, in từ năm
1991, cuốn thứ 2 là Tổng tập văn học phật giáo mà tập 1 liên quan ở đây cũng
xuất bản năm 2001 ở TP HCM. Tôi chỉ thiếu 1 cuốn duy nhất, mà cuốn đó cực kỳ
quan trọng, là cuốn Lục độ tập kinh và khởi nguồn của dân tộc ta (LĐTK), cuốn
này số lượng in ít quá, phạm vi phát hành lại rất hẹp nên ở Hà Nội tôi phải nhờ
các bạn ở TP HCM tìm lại cho, LĐTK cả lần xuất bản thứ nhất năm 1972 và lần tái
bản năm 2005 vừa rồi. Những vấn đề đưa ra không gây chấn động cho giới sử học Những vấn đề mà thiền sư đưa ra là những vấn đề mà giới khoa học đã quan
tâm. Nó không có cái gì mới mẻ lắm với chúng tôi đâu. Chẳng hạn như vấn đề chữ
viết thời Hùng Vương (HV) chúng tôi quan tâm từ rất lâu, mà tồn tại lớn nhất là
chưa tìm ra được hệ thống chữ viết. Hay là vấn đề Thục Phán An Dương Vương
(TPADV) cũng có tranh luận kéo dài. Các nhà sử gia của ta kể cả Nguyễn Trãi nói
“Trải Triệu, Đinh, Lý, Trần", coi là một kỷ nhà Triệu mà nhiều người băn khoăn, sau
này Ngô Thì Sĩ kịch liệt phê phán quan niệm này. Rồi chung quanh thời Bắc thuộc
thứ nhất cuộc xâm lăng, nền đô hộ của Triệu Đà như thế nào thì cái năm ở trong
Đại Việt Sử Ký toàn thư rõ ràng là không chuẩn xác, cho là nước Âu Lạc thành lập
năm 257 TCN thì chúng tôi đã thảo luận vấn đề này và xác định từ rất lâu. Các
vấn đề đặt ra không có gì mới. Những “phát hiện chấn động" này, về một mặt nào đó
cũng chấn động thật, nhưng là chấn động trong dư luận của những người không
chuyên nghiên cứu, còn với chúng tôi thì tuyệt đối không có gì chấn động cả.
Những công trình mới công bố, nhất là có những phát hiện mới thì thường dẫn tới
2 cái hệ quả: thứ nhất, nếu là các phát hiện đủ cơ sở khoa học thì lập tức được
đồng nghiệp chấp nhận ngay và sẽ tiếp thu nó đưa vào các công trình nghiên cứu
liên quan. Đó là sự công nhận của giới khoa học, không cần tranh luận, đó là sự
tiếp thu lẫn nhau của các nhà sử học trong cùng một chuyên môn. Còn thái độ thứ
hai là vấn đề người ta không tin, không cho là có đủ cơ sở thì có thể người ta
tranh luận, hoặc có thể người ta bỏ qua, coi như người ta không chấp nhận những
phát hiện đó. Cuốn sách của Thiền sư LMT công bố không phải là mới mẻ lắm, từ
những năm 1991, 2001, các công trình nghiên cứu về sau cũng không đề cập đến,
điều đó cũng phản ánh phần nào thái độ của các nhà sử học đối với các phát hiện
này. Coi tập kinh như tư liệu lịch sử số một là không thỏa đáng Phải nói một cách công bằng rằng, đứng về phương diện nghiên cứu lịch sử phật
giáo Việt Nam và nhất là nghiên cứu về Văn học phật giáo Việt Nam thì Thiền sư
LMT là một chuyên gia. Ông có hiểu biết sâu rộng và có những tìm tòi phát hiện
mà cá nhân tôi rất trân trọng. Tôi lấy thí dụ: nghiên cứu về những nhà sư nước
ngoài đầu tiên xuất hiện trên đất Giao Chỉ, rồi nghiên cứu về các nhà sư Việt
Nam, các đạo Kinh trong hệ thống kinh phật. Tôi tiếp thu ngay những vấn đề này.
Nhưng khi vận dụng các kết quả nghiên cứu ấy sang nghiên cứu lịch sử dân tộc thì
phải nói lịch sử phật giáo và lịch sử dân tộc quan hệ với nhau rất mật thiết,
nhưng không phải là một, mà là hai lĩnh vực khác nhau, đối tượng khác nhau và do
đó, cách nghiên cứu, phương pháp luận, cách vận dụng tư liệu cũng khác nhau.
Chẳng hạn như quan niệm rằng hệ thống tư liệu đáng tin cậy nhất bây giờ được bảo
tồn trong hệ thống kinh phật như vậy không thỏa đáng. Kinh Phật có một phần phản
ánh những sử liệu về dân tộc, nhất là những sử liệu về văn hóa dân tộc và dòng
văn hóa phật giáo, chúng tôi luôn luôn coi là một dòng cấu thành của lịch sử văn
hóa Việt Nam, cũng như dòng văn hóa của các tôn giáo khác. Phật giáo có quá
trình đồng hành với lịch sử dân tộc rất dài với 2.000 năm, có cống hiến lớn nhất
trong phát triển văn hóa và trong quá trình xây dựng bảo vệ đất nước. Chúng ta
rất trân trọng vai trò của phật giáo, nhưng trên phương diện nghiên cứu phải có
sự phân biệt rõ ràng. Cho rằng các tư liệu của phật giáo, nhất là các kinh mà
khởi đầu là LĐTK là tư liệu cổ xưa nhất, đáng tin cậy nhất để nghiên cứu về lịch
sử Việt Nam, coi tập kinh đó là bảo tồn tư liệu số một về lịch sử, như vậy không
thỏa đáng. Nghiên cứu lịch sử của bất cứ dân tộc nào cũng phải dựa vào toàn bộ
nguồn tư liệu có liên quan, trong đó có tư liệu chữ viết, mà trong tư liệu chữ
viết có tư liệu của các tôn giáo. Nhưng chưa đủ, đó chỉ là một phần của sử liệu
thôi, phải dựa vào tất cả các nguồn sử liệu khác, trong đó có hệ thống sử liệu
của tất cả các vương triều để lại từ trước cho đến nay. Ở ta từ đời Lý thì bắt
đầu, những tác phẩm sớm nhất còn lại đến bây giờ là mới đời Trần thôi, dù muộn
màng nhưng là các tư liệu rất quý, dù có khiếm khuyết chỗ này chỗ khác nhưng là
một hệ thống tư liệu rất cơ bản. Rồi các nguồn tư liệu khác như bi ký, gia phả,
thần tích... chúng ta phải nghiên cứu tất cả, rồi cả nguồn tư liệu truyền khẩu
trong văn hóa dân gian, trong đó có hai nguồn tư liệu liên quan mật thiết đến
buổi đầu của dân tộc là các huyền thoại về khởi nguyên vũ trụ và khởi nguyên của
con người. Dân tộc nào cũng bắt đầu lịch sử của mình bằng các huyền thoại như
vậy cả. Các huyền thoại truyền khẩu đến thời điểm nào đó có tác giả đứng ra sưu
tầm và biên soạn lại thành sách, tức là văn bản hóa các tài liệu truyền khẩu
này. Rồi nguồn tư liệu trong ngôn ngữ, trong phong tục tập quán, trong các địa
danh cổ còn lưu lại đến nay. Và đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu cổ sử là tư
liệu khảo cổ học, nhưng tôi rất tiếc là thiền sư LMT nặng về tư liệu phật giáo,
tôi không phủ nhận nhưng nó chỉ là một nguồn tư liệu, rồi khai thác rất kỹ các
sử liệu của Trung Quốc, nhưng ông cũng chỉ chọn tư liệu nào phù hợp với mình
thôi, loại trừ những cái không phù hợp. Các tư liệu khác nhất là tư liệu khảo cổ
học thì hoàn toàn không đề cập tới. Cơ sở để nghiên cứu về lịch sử tư liệu nói
chung và đặc biệt là giai đoạn đầu này mà sử dụng nguồn tư liệu như vậy là chưa
đầy đủ. Về mặt phương pháp luận để xác minh các nguồn tư liệu đó để rút ra những
thông tin đáng tin cậy, tổng hợp lại để phục dựng lại thời xa xưa của dân tộc
thì đây là khâu bếp núc của các nhà sử học, rất công phu. Các thao tác này thiền
sư cũng làm chưa đầy đủ, nên sức thuyết phục của nó là rất thấp, có những kết
luận rất mạnh mẽ nhưng hoàn toàn chưa có đủ cơ sở để khẳng định. Sự tồn tại của triều đại An Dương Vương là không thể phủ nhận được Thưa GS, Thiền sư LMT cho rằng không có triều đại An Dương Vương, vậy
khoảng cách từ thời Hùng Vương đến thời Hai Bà Trưng là một lỗ hổng? Đây là một trong những cái nhà báo gọi là phát hiện chấn động, tức là thiền
sư LMT hoàn toàn phủ nhận thời kỳ ADV trong lịch sử Việt Nam, dù chính thiền sư
đã dẫn ra những tài liệu của TQ, của ta ghi chép về thời Âu Lạc, về ADV, nhưng
cuối cùng phủ nhận cho rằng đó chỉ là một phiên bản, như trong sách của thiền
sư, là "một hư cấu" dựa trên một anh hùng ca Ấn Độ Mahabharata. Kết luận như vậy
rõ ràng là tùy tiện quá, chủ quan quá. Làm thế nào mà phủ nhận được cách ghi chép mà các ghi
chép này không chỉ sử sách của ta mà cả sử sách của TQ mà tác giả đã từng dẫn
ra? Chỗ nào không phù hợp thì được phủ nhận hoàn toàn. Nhưng có một điều cực kỳ
quan trọng là chứng tích không thể chối cãi của nước Âu Lạc, của TPADV thì lại
bị bỏ qua. Các di tích vật chất mà khảo cổ học đã phát hiện được, đặc biệt là
thành Cổ Loa còn đó, với 3 vòng thành trên 16 cây số. Cũng có tranh luận trong
giới sử học nhưng cuối cùng chúng tôi thống nhất thành Cổ Loa xây dựng đầu tiên
thời ADV, các triều đại về sau sử dụng có tu sửa bồi đắp nhất định. Di tích trên
đường thành Cổ Loa còn đó, nhưng trong lòng đất là cả một kho tàng tư liệu khảo
cổ cực kỳ phong phú. Chúng ta chưa khai quật lớn nhưng đã tìm được những hiện
vật rất giá trị: năm 1959 tìm được kho có hai vạn mũi tên đồng rất đặc trưng của
thành Cổ Loa, không phải mũi tên đồng chung ở nơi khác. Sau đó tìm thấy trống
đồng Cổ Loa và gần 100 lưỡi cày đồng. Đặc biệt hai năm gần đây (2006 - 2007),
các nhà KCH đã tiến hành khai quật ở bên trong thành nội của Cổ Loa thì có một
phát hiện đặc biệt giá trị là tìm ra ở đây cả một hệ thống các lò nung và hàng
trăm khuôn đúc đồng, đúc mũi tên đồng được làm bằng đá, có cả những mũi tên đồng còn để
lại. Mũi tên đồng Cổ Loa rất đặc trưng và giải thích cho một loạt các ghi
chép sử cũ của ta và cả Trung Quốc là Cổ Loa có 3 vòng thành. Vòng trong
cùng là thành nội, về nguyên tắc chỉ dành riêng cho vương triều và cho hoàng gia, nhưng ADV
đã dùng một phần của thành nội làm cơ sở sản xuất vũ khí . Điều đó có
ý nghĩa là thời bấy giờ ADV rất coi trọng loại vũ khí này và coi đây
là bí mật quốc gia không thể sản xuất ngoài thành nội được, tức là nằm trong vòng kiểm
soát trực tiếp của ADV. Như vậy truyền thuyết về nỏ thần hay các thư tịch TQ nói
về tài dùng nỏ của ADV mà người ta chép theo lối phóng đại là một mũi
tên trúng hàng trăm người, tuy có phần hư cấu, nhưng cho thấy KCH đã chứng minh được
là đã phát hiện ra mũi tên đồng rất đặc trưng và cả cơ sở sản xuất, nơi ADV
coi đây là bí mật quốc gia thực sự cần bảo vệ. Thưa Giáo
sư, về Khảo cổ học có thể khẳng triều đại An Dương Vương trong lịch
sử? Theo tôi sự tồn tại này là không thể phủ nhận được, vấn đề đang thảo luận
hiện nay là nguồn gốc của Thục Phán: từ đâu tới, mối quan hệ Hùng - Thục như thế
nào, từ nước Văn Lang chuyển sang nước Âu Lạc ra sao. Theo ghi chép của thư tịch
TQ thì Thục Phán là con vua Thục, tức là nước Ba Thục bên Tứ Xuyên TQ. Điều đó
từ TK 19 các sử gia tiền bối đã bác bỏ, bây giờ chúng tôi khẳng định Thục Phán
là một thủ lĩnh của người Việt cổ ở gần nước Văn Lang. Nhưng hiện có 3 hướng tìm
tòi.Hướng thứ nhất là vùng tây bắc dựa trên các thần tích về Hùng Vương, hướng
thứ 2 là vùng Lào Cai là nơi tìm thấy rất nhiều trống đồng Đông Sơn , nhưng cá
nhân tôi lại thiên về vùng Cao Bằng hơn. Ở Cao Bằng trống đồng tìm thấy rất ít
nhưng cũng đã tìm thấy, vì KCH ít thám sát vùng này. Nhưng người Tày ở đây còn
có những truyền thuyết trực tiếp về TPADV, đó là truyền thuyết Chín chúa tranh
vua trong đó cha của Thục Phán là Thục Ngô đã lập nước Nam Cương, sau đó truyền
lại cho Thục Phán, giữa Thục Phán và Hùng Vương có xung đột nhưng cuối cùng đã
thống nhất lại là nước Âu Lạc. Sẽ tập trung tháo luận vào ba vấn đề lớn nhất Xin Giáo sư
cho biết, Hội Lịch Sử có ứng xử gì để trấn an dư luận? Những phát biểu trên của tôi với tư cách cá nhân, về phương diện Hội lịch sử
học mà nói, chúng tôi thấy phải có trách nhiệm với nhân dân, với lịch sử, phải
làm sáng tỏ những vấn đề mà thiền sư LMT nêu lên. Báo đã quảng bá gây ra băn
khoăn lớn cần giải đáp, nhất là trong lớp trẻ, chúng tôi nhận được rất nhiều
điện thoại và thư yêu cầu giải đáp. Hội sử học quyết định phải làm sáng tỏ, hội
giao cho nhà sử học Dương Trung Quốc trực tiếp liên hệ với thiền sư LMT đề tổ
chức cuộc thảo luận công khai. Chúng tôi đưa ra 2 phương án để thiền sư LMT lựa chọn. Thứ nhất là một hội
thảo bàn tròn có tính chất chuyên gia, một bên là thiền sư LMT và các cộng sự mà
ông thấy cần thiết. Về phía hội sử học cũng có các chuyên gia, và đây là tọa đàm
có tính chất chuyên gia. Mà đã là chuyên gia thì rất dễ hiểu nhau, ta đưa tất cả
lên mặt bàn thảo luận sòng phẳng, sau đó thống nhất được thì rất là hay. Và cũng
tiên liệu trước là có vấn đề không thống nhất được thì phải ghi rõ thái độ của
các bên như thế nào, bảo lưu như thế nào. Khoa học không thể áp đặt được, phải
thuyết phục bằng các cứ liệu. Phương án thứ hai mà thiền sư bận thì sẽ mở một cuộc tranh luận trên tạp chí
Xưa và Nay của hội. Tôi sẽ viết một bài đưa ra những vấn đề tập trung cần tranh
luận. Thiền sư đưa ra rất nhiều vấn đề, nhưng tôi dự kiến tập trung vào 3 vấn đề
lớn nhất: có hay không có thời ADV trong lịch sử Việt Nam; có hay không có cuộc
xâm lược của Triệu Đà, sự đô hộ của nhà Triệu, sau đó là nhà Hán cho đến cuộc
khởi nghĩa Hai Bà Trưng, từ đó liên quan đến việc Hai Bà Trưng là cuộc khởi
nghĩa chống lại đô hộ của nhà Hán hay cuộc kháng chiến tự vệ chống ngoại xâm.
Vấn đề thứ 3 liên quan đến cả hai vấn đề trên, đó là nền tảng tư liệu. Những cái
mà thiền sư viết ra chủ yếu dựa vào LĐTK, dựa trên văn bản chữ viết tiếng Việt
thì rõ ràng chữ viết tiếng Việt đã hoàn chỉnh có thể viết cả một tập kinh, thì
như vậy cái gọi là phát hiện ra chữ viết người Việt đã thuyết phục chưa. Thảo luận 3 vấn đề phải trên một nguồn tư liệu đầy đủ, không thể cắt xén.
Bằng phương pháp sử liệu học phân tích một cách khoa học nhất, rút ra thông tin
khoa học nhất tổng hợp nó lại để nhìn nhận quá khứ xa xưa. Tôi biết trong giới
sử gia đã hình thành quan điểm của mình. Cuộc tranh luận này dự kiến chỉ kéo dài
một tháng, và sớm đi đến kết luận. Không phải kết luận mọi vấn đề đâu, mà rút ra
cái gì có thể khẳng định cái gì còn tồn tại, những đề xuất của thiền sư cái gì
đủ căn cứ, cái gì cần xem xét lại, cái nào là giả thuyết. Nếu như dựa vào vài đề
xuất có căn cứ không vững chắc mà đã đòi hỏi xem xét viết lại lịch sử Việt Nam,
đuổi các thời kỳ ra khỏi lịch sử thì quá vội vàng. Rõ ràng bài viết của báo Thanh niên và các công trình đích thực của thiền sư LMT mang
tính dân tộc rất cao. Là người Việt Nam thì ai cũng mong muốn có thời kỳ độc
lập dân tộc lâu dài, có nước Văn Lang, thời Hùng Vương đạt đến trình độ cao như
vậy. Nhưng đây là vấn đề khoa học phải chứng minh được sự thật. Nếu sự thật nâng
chúng ta lên thì chúng ta càng phấn khởi nhưng có cái đau đớn chúng ta cũng phải
chấp nhận. Chân lý phải được đặt lên cao nhất. Sự thật lịch sử phải được tôn
trọng đầy đủ. Không phải vì cái mà chúng ta mong muốn là có thể vẽ theo ý của
mình. Xin cảm ơn Giáo sư! ---------------------- NN (thực hiện) |
| Trang chính
Chính trị
|
Kinh tế
|
Đời sống - Sức khỏe
|
Pháp luật
|
Khoa học - Giáo dục - Tin học
|
|
Văn hoá
|
Thế giới
|
Thể thao
|
Tết 2009
|
Trang Hà Nội
|
Tết 2010
|
World Cup 2010
|
© Báo Nhân Dân thiết kế và giữ bản quyền. Mong bạn đọc góp ý kiến, phê bình. Địa chỉ liên hệ: toasoan@nhandan.org.vn |