Một đời đèn sách
Tôi được gặp GS Vũ Khiêu lần đầu ở Hà Tĩnh, ngay tại Ðồng Lộc, nơi cách đó mấy tháng cụ đã ngồi ở Hà Nội viết những lời minh chuông đầy hào khí:
Một tượng đài cao vút hướng thanh thiên Mười ngôi mộ sáng trưng bạch ngọc Tiếng chuông rung khí phách Trường Sơn Tiếng chuông dội tinh thần Ðồng Lộc Ngàn thu thức tỉnh đạo làm người Muôn dặm bừng soi gương vị nước... Trên đường đến thăm khu di tích Nguyễn Du, cụ nói: "Nguyễn Du là hiện tượng
từ trước chưa có, đến nay chưa có và chắc gì mai sau đã có". Ra thăm mộ thi
nhân, cụ đặt từng bước chân cẩn trọng, nghiêm trang vuốt mái tóc lưa thưa, sửa
lại tà áo, nhẹ nhàng rót rượu và dâng hương rồi thì thầm hồi lâu trước nấm mồ
của thi nhân, người đã đau nỗi đau nhân thế, buồn nỗi buồn thân phận con người,
yêu tình yêu của những đôi lứa và dồn tất cả cảm xúc lên ngòi bút tài hoa. Một
con người đã sinh ra và lớn lên trong bão táp cách mạng, từng giữ nhiều chức vụ
quan trọng trong các cơ quan văn hóa, khoa học của Nhà nước, nay đứng trước Ðại
thi hào của dân tộc và thế giới, suy nghĩ điều gì, tâm sự điều chi? Ðiều
băn khoăn của tôi đã được giải đáp khi Giáo sư đặt bút viết những dòng lưu niệm.
Bàn tay khẽ khàng giở các trang viết, gương mặt suy tư, ánh mắt ngời lên,
Giáo sư như chìm ngập vào suy tưởng, rồi từng dòng từng dòng hiện lên, gầy
guộc mà chất chứa tâm tư: Phải chăng người đời bấy giờ đã biết khóc cụ hay còn đợi đến 300 năm? Người
đời khóc cụ như cụ từng khóc Kiều, Kiều khóc Ðạm Tiên... Bao giờ thế giới hết
chiến tranh, bao giờ con người được tự do phát triển?... ... Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài. Cái tài của cụ phải được nhân lên ba lần
mới xứng với cái Tâm của cụ... Lần gặp Giáo sư vào ngày đầu đông năm ngoái đã thôi thúc tôi tìm gặp cụ tại
Hà Nội, Thủ đô ngàn năm văn hiến, nơi cụ đã viết 72 cuốn sách và 10 văn bia, câu
đối cho các di tích lịch sử trong nước cùng hàng trăm bài phú, bài nói chuyện
tại các diễn đàn, nơi mỗi ngày đón bình minh lên là mỗi ngày cụ miệt mài trong
lao động cho đến tận 11, 12 giờ, có khi đến 1, 2 giờ sáng hôm sau vì sự trường
tồn của nền văn hóa Việt Nam. 95 mùa xuân cuộc đời của cụ đi qua trong sự thanh
bạch mà cao sang như Nguyễn Trãi từng nói Án sách cây đèn hai bạn cũ. Song mai
hiên trúc một lòng thanh. Căn nhà gác 2 trong khu tập thể phố Vạn Bảo yên tĩnh và sạch sẽ với những tán
cây lưu niên dường như cách biệt với phố xá ồn ào ngoài kia. Qua khỏi bậc tam
cấp là hành lang hẹp được bài trí công phu và gọn ghẽ với những câu đối, bức
ảnh, bức họa và thư pháp như lời mời nồng nhiệt và ý vị của chủ nhân. Tôi chú ý
đến hai câu đối viết trên gỗ: Nước 4000 năm, nhân ái còn tuôn dòng sữa Mẹ. Dân
tám chục triệu, anh hùng chẳng thẹn tấm lòng Cha. Ðây là hai câu đối do Giáo sư
viết bằng chữ Hán tại đền Hùng. Trên tường là bức ảnh chụp Giáo sư ngày trẻ với
Bác Hồ cùng những người cộng tác ở chiến khu Việt Bắc, chân dung Bác Hồ, chân
dung Ðại tướng Võ Nguyễn Giáp,... Phòng khách ở gian giữa không rộng nhưng sang trọng và đậm đặc mầu sắc văn
hóa-triết học với tượng Giê-su, Khổng Tử và Ðức Phật tổ Như Lai đặt trang trọng
trên bệ thờ. Phía dưới bên trái là tượng Quốc công tiết chế Trần Quốc Tuấn,
tượng Lý Thái Tổ và bài thơ trên gỗ viết bằng chữ Hán: "Nam quốc sơn hà" của Lý
Thường Kiệt. Ngay chính giữa gian, phía trên bộ bàn ghế xa-lông cổ để tiếp khách
quý là bài thơ: "Thượng sơn" của Bác Hồ do một người bạn viết tặng cụ, phía dưới
là bức thư chúc thọ của GS Trần Văn Giàu, người bạn những ngày đầu đi theo cách
mạng của cụ và cũng là một trong hai "cây đại thụ" còn lại của nước nhà. Dẫn tôi vào thăm gian chính xong, cụ thong thả bước ra gian ngoài. Ðây là
phòng tiếp khách thường ngày và cũng là nơi nghỉ trưa của cụ. Toàn bộ căn phòng
toát lên mầu trắng của sự thanh bạch và khiêm nhường, từ chiếc khăn trải bàn
diềm đăng-ten, chiếc ga trải giường, những chiếc rèm cửa hoa trắng điểm dây xanh
nhạt. Ngoài kia những giò phong lan màu trắng, mầu tím đung đưa nhè nhẹ trong
gió hè Hà Nội. Một không gian thật yên bình và trong trẻo. Và nổi bật trên đó là
dáng người trí thức già đang say sưa bên những giá sách, câu đối, thư pháp...vừa
mang đậm vẻ hiền triết phương Ðông vừa mang vẻ đẹp Việt Nam rất riêng, cao sang
mà hiền từ, thâm trầm mà gần gũi. Nhìn toàn bộ căn phòng, tôi chợt hiểu vì sao
ngày trước có người đã mua căn hộ này với giá 5.000 cây vàng mà cụ không bán,
nói rằng: Tôi có 5.000 cây vàng không quý bằng 5.000 người bạn. Biết bao nhiêu
người khách là trí thức, văn nghệ sĩ, chính trị gia Hà Nội và cả nước đã được cụ
tiếp chuyện, rồi nhận lời mời viết sách, viết văn bia, câu đối, duyệt bài... ở
đây. Chiếc giường là để cụ ngả lưng vào ban trưa, chiếc ghế nửa nằm nửa ngồi là
để cụ tựa lưng lúc ngồi chuyện trò với khách khi tuổi đã cao. Và cũng tại đây,
cụ đã kể cho tôi nghe về cuộc đời đi theo Ðảng và Bác Hồ, tình yêu và lòng tin
của một người trí thức từng trải bao cực nhọc gian truân ở đời, sống và làm việc
không ngơi nghỉ cho đến những ngày tháng cuối cùng. Một tấm lòng son Sinh ngày 18-9-1916 trong một gia đình trí thức nghèo ở làng Hành Thiện,
huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Ðịnh, từ nhỏ Vũ Khiêu đã phải chia sẻ gánh nặng gia
đình với mẹ. Bố là nhà nho yêu nước đã từng đi theo Phan Bội Châu, đang chuẩn bị
Ðông Du thì bị Pháp bắt. Nhà nghèo, một mình mẹ phải nuôi bốn anh em nên năm 10
tuổi, tuy thông minh sáng dạ, học chữ Hán rất giỏi nhưng Vũ Khiêu phải nghỉ học
đi làm thuê kiếm sống. 17 tuổi, Vũ Khiêu xin vào làm hộ lý ở nhà thương của
Pháp, làm đủ mọi việc, từ lau sàn, dọn hố xí, phục vụ bệnh nhân để nhận mỗi
tháng mười đồng nuôi em. Sau lần bị đuổi việc vì đi làm muộn, chàng thanh niên
quê hương văn vật và giàu nghĩa khí quyết định xa gia đình đi làm cách mạng. Lên
chiến khu Việt Bắc, anh được phân công phụ trách công tác thông tin tuyên truyền
của Ðảng. Lớn lên cùng cách mạng, ông đã trải qua các cương vị: Giám đốc Nha
Thông tin văn hóa Chiến khu Việt Bắc, Phó Giám đốc Thông tấn xã Việt Nam, giảng
viên Học viện Nguyễn Ái Quốc, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học xã hội kiêm Viện
trưởng Viện Xã hội học... Ðiều nổi bật nhất ở GS Vũ Khiêu là tinh thần tự học, ý chí vươn lên. Thời
trẻ, Giáo sư không được đào tạo trong các nhà trường. Với vốn tiếng Hán từ nhỏ
học ở nhà do cha dạy, trong quá trình làm việc và công tác tự học hỏi, mở rộng
và tôi luyện thêm cộng với hai năm được học tập ở Trung Quốc nên Giáo sư rất
giỏi về chữ Hán. Tôi nhớ khi đến thăm nhà thờ Nguyễn Công Trứ, đọc hàng văn bia
trên đá, cụ vừa đọc từng hàng vừa khen chữ viết đẹp. Giáo sư còn tự học tiếng
Pháp và là người nói tiếng Pháp giỏi lúc bấy giờ. Thỉnh thoảng, Giáo sư lại được
Viện "Viễn Ðông bác cổ" của Pháp mời viết bài và phát biểu tại các hội nghị, hội
thảo. Trong 72 đầu sách và 10 văn bia của cụ chỉ có 12 cuốn là biên soạn, còn
nữa đều là sáng tác, nghiên cứu, trong đó có những cuốn rất quý như: "Văn hóa
học đại cương và chính sách văn hóa Việt Nam", "Văn hóa phát triển và bản sắc",
"Ðức trị và pháp trị", "Nho giáo và con người", "Tìm hiểu ngàn năm văn hóa Thăng
Long", "Ðạo đức và pháp luật trong triết lý phát triển ở Việt Nam"... Mới đây
nhất, ông Lý Quang Diệu - Tổng thống Xin-ga-po, Chủ tịch Hội Khổng học thế giới
đã mời Giáo sư làm cố vấn. Dù đã cao tuổi nhưng cụ vẫn nhận làm Chủ tịch Hội
đồng tư vấn Nhà xuất bản Hà Nội. Ðiều làm chúng tôi hết sức kính trọng và cảm phục là nhân cách cao đẹp
của vị Giáo sư đã một lòng đi theo Ðảng, trung thành với Ðảng, cống hiến cả cuộc
đời mình cho sự nghiệp cách mạng, cho nền văn hóa Việt Nam. Khi bàn luận về các
khuynh hướng văn chương hiện nay, tôi kể cho Giáo sư nghe về một vài tác phẩm
văn học có xu hướng "nói ngược", cụ bình thản đọc cho tôi nghe hai câu của Ðặng
Dung thế kỷ XV: ở với lửa hương, lửa hương cho vẹn kiếp, thử xem sắt đá có bền
gan. Ðó là tuyên ngôn sống của cụ, người đã theo Bác Hồ những ngày đầu kháng
chiến, đến hôm nay đã 95 tuổi, qua bao lần bạo bệnh, tấm lòng son với Ðảng chẳng
bao giờ nhạt phai, như cái cây chẳng bao giờ nghiêng ngả trước phong ba, như
người đã đi đường mình chọn là đi đến cùng. Khi tôi nói về Cuộc vận động học tập
và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh hiện nay, như khơi trúng nguồn mạch
tâm tư, Giáo sư hào hứng: - Theo tôi, mỗi người cần đi sâu hơn nữa vào thực tế cuộc sống để thực
hiện lời Bác. Phải thực sự day dứt về Tổ quốc, phải trải qua gian khổ, xuống
đồng ruộng, lên rừng với nhân dân mới thấm thía lời Bác. Những người không trực
tiếp gắn bó với nhân dân thì dù thuộc Bác bao nhiêu cũng không học được Bác. Câu
nói của Bác mà tôi thích nhất là: "Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là
làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng
bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành". Khát vọng to lớn đó của
Bác, mỗi người chúng ta phải tiếp tục thực hiện... BÙI MINH HUỆ |
| Trang chính
Chính trị
|
Kinh tế
|
Đời sống - Sức khỏe
|
Pháp luật
|
Khoa học - Giáo dục - Tin học
|
|
Văn hoá
|
Thế giới
|
Thể thao
|
Tết 2009
|
Trang Hà Nội
|
Tết 2010
|
World Cup 2010
|
© Báo Nhân Dân thiết kế và giữ bản quyền. Mong bạn đọc góp ý kiến, phê bình. Địa chỉ liên hệ: toasoan@nhandan.org.vn |