|
ND- Lâu nay người ta thường quan niệm rằng các nhà văn từ 16 đến 30 tuổi là những nhà văn trẻ. Kinh nghiệm văn học cho thấy, đó chính là lứa tuổi của sáng tạo và thành công. Nói vậy để chúng ta đặt niềm tin đúng đắn của mình vào thế hệ ấy. Tuy nhiên, tuổi trẻ chưa hẳn đã đồng nghĩa với văn học trẻ... Trong lịch sử văn học Việt Nam, ai cũng biết, nhà văn Nguyên Hồng viết Bỉ vỏ
năm chưa đầy 17 tuổi, nhà văn Vũ Trọng Phụng mất năm 28 tuổi, để lại 10 cuốn
sách giá trị bao gồm cả tiểu thuyết, ký sự. Các nhà thơ Tố Hữu, Xuân Diệu, Chế
Lan Viên, Tế Hanh, Huy Cận, Thế Lữ, Hàn Mặc Tử... đều rất nổi tiếng trên văn đàn
khi tuổi đời của họ chưa tròn 25. Tập thơ Bức tranh quê được nhóm Tự lực văn đoàn trao giải thưởng cho nữ sĩ
Anh Thơ khi bà chưa tròn 16 tuổi. Trần Ðăng Khoa trình làng tập thơ Góc sân và
khoảng trời khi tác giả vừa tròn tám tuổi. Các nhà thơ, nhà văn thời chống Mỹ sinh sau 1940, hầu hết đã nổi tiếng trước
năm 1970, họ làm chủ tiếng nói văn học của một thời đại. Nhìn ngược lên theo
tiến trình lịch sử của văn học nước nhà từ Trạng Hiền, Lê Quý Ðôn, Nguyễn Du, Hồ
Xuân Hương, Nguyễn Gia Thiều, Ðặng Trần Côn... hay nhìn rộng ra văn học
thế giới, ta luôn gặp các tác phẩm văn học nổi tiếng của các nhà thơ, nhà văn
trẻ tuổi. Vấn đề văn học trẻ, thực chất là vấn đề các thế hệ nối tiếp trong tiến trình
phát triển của lịch sử văn học. Các nhà văn càng tâm huyết với văn học càng đặt
nhiều hy vọng vào thế hệ các nhà văn trẻ. Vấn đề nhà văn trẻ, văn học trẻ là vấn
đề kế thừa và phát triển của lịch sử văn học, không riêng thời đại nào. Văn học
Việt Nam từ thời Lý đến hậu Lê dường như ít nổi cộm các vấn đề của văn học trẻ
nếu đem so sánh với lịch sử văn chương cuối thời Lê đầu Nguyễn. Các bước nhảy vọt trong lịch sử văn học do các nhà văn trẻ tạo nên thường để
lại những cảm nhận ngỡ ngàng dường như là mâu thuẫn trong nhận thức văn học của
các thế hệ. Nếu Thu cảm, Thu điếu, Thu vịnh của Nguyễn Khuyến chưa phá vỡ vỏ bọc
âm sắc đăng đối nhịp điệu Ðường thi thì Cảm thu của Tản Ðà đã là một giọng điệu
hoàn toàn khác hẳn.
Nhưng rồi Tản Ðà hẳn phải ngỡ ngàng trước quan niệm về thơ của Xuân Diệu, Chế
Lan Viên, Hàn Mặc Tử. Rồi thơ kháng chiến chống Mỹ, thơ kháng chiến chống Pháp
là cả một quá trình kế thừa, chọn lọc và phát triển để lại những dấu ấn riêng
độc đáo. Sự tiếp nối, kế thừa trong nhận thức văn học của thế hệ này với thế hệ
khác là dấu hiệu đáng mừng trong tiến trình phát triển của lịch sử văn học dân
tộc. Ngày nay, sau năm 1975, đặc biệt là sau 1980, một thế hệ mới đã xuất hiện
trong triến trình đổi mới văn học của chúng ta. Ðã có tiếng nói để gây tranh
cãi. Tuy chưa có thành công xuất sắc ở các tác phẩm, tác giả cụ thể nhưng tiếng
nói mới mẻ ấy đã có sức vang dội trên văn đàn, đã hình thành nên hệ thống ngôn
ngữ riêng của nó. Nhiều bạn trẻ trong văn học đã có con đường đi riêng của họ với những tìm
tòi, sáng tạo. Nhưng tiếc thay, có nhiều bạn trẻ đã vượt tuổi 30 vẫn chỉ có
tiếng tăm là người "mở đường" chứ chưa đi đến nơi cần đến ấy là tác phẩm văn học
đích thực mới mẻ, cái chứng chỉ thành công cho con đường mình đã chọn. Chậm chạp
trước thành công, nóng vội trước danh tiếng không phải là sự lựa chọn tối ưu của
một nhà văn. Nhà văn khẳng định mình qua tác phẩm. Tác phẩm là hộ chiếu, là chứng minh thư của các nhà văn. Nhà văn cần nó để
vào nghiệp của mình. Ai cũng biết nội lực của nhà văn quyết định sự nghiệp của
nhà văn đó. Tuy vậy, sự hỗ trợ, giúp đỡ của các tổ chức xã hội nghề nghiệp đối
với các nhà văn là rất cần thiết. Các nhà văn lớp trước, đặc biệt là nhà xuất
bản, báo chí nên tạo điều kiện cho các tác phẩm mới có chất lượng được ra mắt
công chúng. Các nhà phê bình văn học nên giới thiệu cái hay, cái dở, cái mới lạ
trong các tác phẩm trẻ. Những tác phẩm có vấn đề cần được tranh luận công khai trên báo chí. Nhiều
người kêu thơ trẻ khó hiểu, thậm chí là không có cái gì để hiểu. Cái hay của thơ
là ở chỗ câu thơ, bài thơ tạo ra một trường cảm nhận rồi người đọc, người nghe
gặt hái cảm xúc của mình từ trường cảm nhận do ngôn từ và các cấu trúc của nó
tạo ra ở câu thơ, bài thơ đó. Như trên đã nói, cái mới bao giờ cũng gây ra một
sự ngỡ ngàng. Chúng ta không nên biến sự ngỡ ngàng thành sự tẩy chay đối với
những cái quá mới, quá lạ trong văn học trẻ. Trong những năm gần đây, Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các hội văn học - nghệ
thuật, Hội Nhà văn Việt Nam, các Hội văn học - nghệ thuật địa phương có chủ
trương đầu tư cho tác phẩm văn học, mở các trại viết để thúc đẩy công việc sáng
tác của các nhà văn. Cần nhìn rõ sự bất cập và yếu kém trong việc đầu tư tác
phẩm và mở trại sáng tác của các nhà văn, của các hội, nhất là các hội địa
phương. Ðầu tư nhưng không có tác phẩm. Mở trại nhưng không chọn lọc tác giả.
Ðầu tư và mở trại còn dàn trải, không nhằm trúng hiệu quả là sự ra đời của các
tác phẩm văn học có chất lượng. Hội bỏ tiền đầu tư cho tác phẩm lớn nhưng trong
văn học chưa thấy xuất hiện những tác phẩm mang tầm cỡ. Nên chăng, ở các hội địa phương, ngoài ban lãnh đạo cần thành lập một hội
đồng tư vấn có năng lực thẩm định tác phẩm giúp cho việc đầu tư và mở trại sáng
tác có hiệu quả hơn. Con đường sáng tạo của các nhà văn cần có tâm huyết, tài năng và sự rèn
luyện. Ðối với các nhà văn trẻ ở nước ta, con đường ấy rộng mở thênh thang,
nhưng để gặt hái được thành công trước hết phụ thuộc vào chính bản thân sự vươn
lên của mỗi cá nhân các nhà văn, nhà thơ trẻ. Nhà thơ THẠCH QUỲ |
| Trang chính
Chính trị
|
Kinh tế
|
Đời sống - Sức khỏe
|
Pháp luật
|
Khoa học - Giáo dục - Tin học
|
|
Văn hoá
|
Thế giới
|
Thể thao
|
Tết 2009
|
Trang Hà Nội
|
Tết 2010
|
World Cup 2010
|
© Báo Nhân Dân thiết kế và giữ bản quyền. Mong bạn đọc góp ý kiến, phê bình. Địa chỉ liên hệ: toasoan@nhandan.org.vn |